Hà Tiên không phải là nơi để đi qua như một trạm dừng chân. Đứng ở đây, nơi phên giậu cực tây nam của Tổ quốc, ta bỗng thấy mình nhỏ bé trước cái mênh mông của biển trời, nhưng lại thấy lòng mình lồng lộng một niềm kiêu hãnh dòng máu Lạc Hồng.
Hà Tiên vào buổi sớm có một thứ ánh sáng rất riêng. Không rực rỡ như miền biển Trung Bộ, không bảng lảng sương mù như miền sông nước Cửu Long, ánh sáng Hà Tiên trong veo, dịu mà sâu, như thể đã được lọc qua hàng trăm năm lịch sử.
Đứng trên triền núi Bình San, nhìn xuống Đông Hồ còn ngái ngủ, nhìn ra xa là dải biển Mũi Nai mở rộng, người ta dễ có cảm giác mình đang đứng ở một nơi vừa là điểm kết, vừa là điểm khởi đầu của Tổ quốc.
Cái thuở Mạc Cửu - một trang nam nhi lỡ vận từ đất Lôi Châu, mang theo cái chí “Phản Thanh phục Minh” bất thành - dạt về phương nam, ông đã dâng sớ thần phục chúa Nguyễn và trở thành một trong những cận thần có vai trò quan trọng trong chính quyền chúa Nguyễn Phúc Chu, chúa Nguyễn Phúc Khoát.
Hà Tiên xưa, dưới sự khai phá của các chúa Nguyễn và có sự cộng tác đắc lực của Mạc Cửu, Mạc Thiên Tích, đã nhanh chóng trở thành một cảng thị sầm uất, nơi “thuyền biển thuyền sông đi lại như mắc cửi”. Đó không chỉ là nơi buôn bán sáp trắng, ngà voi, hay hải sản, mà còn là một pháo đài văn hóa.
Hà Tiên là nơi có sự giao thoa tuyệt vời giữa đặc trưng của ba nền văn hóa Việt-Hoa-Khmer, tạo nên một bản sắc ẩm thực, lối sống độc đáo. Câu nói cửa miệng của người dân nơi đây đôi khi trộn lẫn cả ba thứ tiếng, như một minh chứng cho sự bao dung và hòa hợp. Đó chẳng phải là cái “tinh hoa Nam Bộ” mà chúng ta hằng tìm kiếm đó sao?
Nhà nghiên cứu Trương Thanh Hùng - nguyên Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Kiên Giang (cũ) - trong những thước phim tư liệu đã trầm ngâm nhận định về cái khí chất của vùng đất này: Hà Tiên không chỉ là đất, mà là hồn. Chính sự giao thoa văn hóa đã tạo nên một bản sắc, một sự cộng cư hòa hợp mà ở đó, lòng yêu nước và ý thức giữ đất luôn được đặt lên hàng đầu.
Tiến sĩ Nguyễn Quang Hà (Trung tâm Bảo tồn di sản văn hóa Thăng Long-Hà Nội), trong mấy năm gần đây, đã cùng các đồng nghiệp miệt mài sưu tầm, lập thư mục, nghiên cứu các nguồn sử liệu thư tịch cổ Hán Nôm liên quan Tao đàn Chiêu Anh Các và Hà Tiên thập vịnh.
Ông cho biết: Tao đàn do Mạc Thiên Tích chủ xướng vào năm 1736, với mười cảnh đẹp được các văn nhân, thi sĩ tài hoa vịnh thành thơ, chính là cái hồn cốt làm nên danh xưng “Hà Tiên thập cảnh” xưa lẫy lừng, rộng lớn.
Đi tìm “Mười cảnh đẹp” hôm nay, ta như lạc vào một cõi mộng, vừa thực vừa ảo. Này là Bình San điệp thúy với dãy núi như bức bình phong xanh ngắt, nơi đặt lăng mộ họ Mạc lặng lẽ soi bóng thời gian. Này là Thạch Động thôn vân, cái hang đá như nuốt cả mây trời vào lòng, nơi mà mỗi bước chân ta đi đều nghe như có tiếng vọng của thạch nhũ từ nghìn năm trước. Hay Đông Hồ ấn nguyệt, đầm nước lợ mênh mang mà mỗi đêm trăng, mặt nước như tấm gương khổng lồ hứng lấy ánh vàng từ trời cao đổ xuống. Cho đến hôm nay, những đêm thanh của phố thị sầm uất hiện đại, khách phương xa tìm đến nơi này ngày một đông, thì ánh trăng Đông Hồ vẹn nguyên nghìn năm trước vẫn vô cùng quyến rũ.
Nhưng một dải non sông gấm vóc này không chỉ được vẽ bằng thơ, mà còn được tạc vào đại địa bởi những nhát cuốc phi thường. Bước sang đầu thế kỷ XIX, một vị tướng quân đa tài từ đất Quảng Nam - Thoại Ngọc Hầu - đã tiếp nối sứ mệnh mở cõi bằng một tầm nhìn chiến lược. Khoảng năm 1819-1824, dưới sự chỉ đạo của ông, mấy vạn nhân công đã thực hiện một cuộc chinh phục thiên nhiên kỳ vĩ: đào con kênh Vĩnh Tế dài hàng trăm cây số nối liền Châu Đốc với Hà Tiên.
Hãy hình dung giữa vùng đầm lầy, rừng rậm và núi đá hiểm trở của hơn hai thế kỷ trước, Thoại Ngọc Hầu đã cho đốt hàng trăm cây đuốc lớn dóng theo các ngọn cây để định hướng đường thẳng cho con kênh trong đêm tối. Đó không chỉ là kỹ thuật đào kênh, đó là khát vọng dẫn nguồn nước ngọt từ sông Hậu về tắm mát vùng đất phèn mặn phía vùng biển Tây Nam này, biến “tứ giác Long Xuyên” từ hoang vu thành vựa lúa ấm no. Con kênh mang tên vợ ông - bà Châu Thị Tế - là minh chứng cho một tấm lòng nhân nghĩa và một tầm nhìn hướng biển vượt thời gian. Hà Tiên cũng không chỉ có mây nước năm xưa.
Hà Tiên là câu chuyện tiếp nối của những con người đang từng ngày bám biển, vươn khơi. Tôi gặp anh Lý Bình Sơn, một người có làn da sạm nắng biển và đôi mắt sáng. Anh Sơn cười, giọng sảng khoái: “Đời cha ông mình đã lấn biển để có đất này, đời tụi tui bây giờ là phải giữ biển. Biển Hà Tiên hiền hòa nhưng cũng đầy thử thách, mỗi chuyến vươn khơi là một lần mình khẳng định chủ quyền mà tiền nhân đã đổ mồ hôi, nước mắt để gầy dựng”. Trong câu chuyện thường ngày của anh Sơn và bạn bè ngư nghiệp, họ luôn nhắc nhau làm sao mỗi khi ra khơi là nhớ tọa độ chủ quyền, nhớ “nuôi biển” dài lâu. Cái triết lý của người nơi đây vừa giản dị, mà hào sảng lạ lùng!
Tôi cũng được nghe đồng chí Trần Ngọc Quyên, Trưởng ban Xây dựng Đảng phường Hà Tiên, tỉnh An Giang hôm nay, nói về tầm nhìn phía trước với một niềm tin sắt đá. Chị bảo: “Hà Tiên hôm nay không chỉ nhìn về quá khứ mấy trăm năm trước. Chúng tôi đang xây dựng một đô thị biên giới xanh, bền vững, nơi mà di sản văn hóa Chiêu Anh Các phải sống cùng nhịp thở với kinh tế biển. Tầm nhìn của chúng tôi là hướng biển, vươn khơi, làm sao để mỗi tấc đất, mỗi sải sóng nơi đây đều đóng góp vào một Việt Nam rạng rỡ tương lai”.
Một trong ba khâu đột phá mà Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ phường lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030 xác định là: Phấn đấu xây dựng Hà Tiên trở thành trung tâm kinh tế biển-du lịch-thương mại biên giới quan trọng của vùng Tây Nam Bộ, góp phần thúc đẩy liên kết vùng và hội nhập kinh tế quốc tế... Áp lực đấy nhưng cũng là động lực, là trách nhiệm.
Đồng chí Nguyễn Lưu Trung, Bí thư Đảng ủy phường Hà Tiên
Trong trụ sở phường Hà Tiên, đồng chí Nguyễn Lưu Trung, Bí thư Đảng ủy nhìn xa ra phía biển. Anh nói về tương lai Hà Tiên mới bằng giọng điềm đạm, rõ ràng: “Một trong ba khâu đột phá mà Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ phường lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030 xác định là: Phấn đấu xây dựng Hà Tiên trở thành trung tâm kinh tế biển-du lịch-thương mại biên giới quan trọng của vùng Tây Nam Bộ, góp phần thúc đẩy liên kết vùng và hội nhập kinh tế quốc tế... Áp lực đấy nhưng cũng là động lực, là trách nhiệm”.
Hà Tiên là đất biên cương, là nơi lịch sử gửi gắm trách nhiệm giữ đất, giữ biển. Theo định hướng chung, phát triển Hà Tiên phải dựa trên nền tảng văn hóa-lịch sử. Những di tích như lăng Mạc Cửu, các thắng cảnh gắn với Hà Tiên thập cảnh không chỉ là tài nguyên du lịch, mà chính là “căn cước” của vùng đất. Giữ được căn cước ấy, Hà Tiên mới không bị hòa tan trong quá trình đô thị hóa và hướng đến mô hình phát triển bền vững: Du lịch sinh thái gắn với bảo tồn, kinh tế biển song hành với bảo vệ chủ quyền, đời sống người dân được nâng cao nhưng không đánh đổi môi trường. Tầm nhìn hướng biển hôm nay, cũng chính là tiếp nối tầm nhìn mở cõi của bao bậc tiền hiền thuở trước.
Đất Hà Tiên đẹp lắm, nhưng cái đẹp ấy cần được gìn giữ bằng trách nhiệm, bằng sự hiểu biết về lịch sử và bằng khát vọng vươn mình ra biển lớn.
Đứng ở Mũi Nai, nhìn về phía chân trời xa tắp, nơi những hòn đảo nhỏ nhấp nhô, ta mới thấy hết giá trị công sức của bao lớp người, đời cha truyền đời con, đinh ninh một lời thề “giữ biển”. Cha ông ta ngày xưa từ đất liền mà nhìn ra biển để mở mang bờ cõi. Chúng ta ngày nay từ biển nhìn vào đất liền để giữ vững và bồi đắp cơ đồ.
Đất Hà Tiên đẹp lắm, nhưng cái đẹp ấy cần được gìn giữ bằng trách nhiệm, bằng sự hiểu biết về lịch sử và bằng khát vọng vươn mình ra biển lớn. Để mỗi dịp Tết đến xuân về, khi tiếng trống dạ cổ của Giang Thành còn vang vọng, chúng ta lại thấy tự hào về một “phên giậu” cực nam vững chãi, một Hà Tiên rạng rỡ!
Khách thập phương khi đến vùng đất cực nam này của Tổ quốc, đều không quên dâng hương tri ân các bậc tiền hiền đã có công mở cõi, tri ân các anh hùng, liệt sĩ đã hy sinh qua bao cơn binh lửa để giữ gìn và bảo vệ non sông. Đó cũng như một lời nhắc nhở cho thế hệ hôm nay, rằng cha ông đã nuôi dưỡng khát vọng hướng biển qua bao thế hệ, chúng ta sẽ tiếp nối lời thề giữ biển ấy đến muôn đời sau.