Nền tảng tạo lập một chu kỳ phát triển mới cho đất nước.
Nền tảng tạo lập một chu kỳ phát triển mới cho đất nước.

Nền tảng tạo lập một chu kỳ phát triển mới cho đất nước

Tăng trưởng kinh tế hai con số trong giai đoạn 2026-2030 đã được xác lập thành mục tiêu gắn với quyết tâm chính trị rất cao của Đảng và Nhà nước trong việc tạo lập một chu kỳ phát triển mới cho đất nước.

Trong bối cảnh kinh tế thế giới phục hồi chậm, bất ổn gia tăng, dư địa chính sách truyền thống dần thu hẹp, yêu cầu đặt ra không chỉ là duy trì tốc độ tăng trưởng cao, mà quan trọng hơn là tổ chức lại các động lực tăng trưởng, phân bổ hiệu quả các nguồn lực quốc gia và nâng cao chất lượng phát triển một cách căn cơ, đồng bộ và bền vững.

Nhận diện thách thức tăng trưởng

Phân tích bối cảnh kinh tế trong nước và quốc tế bước vào giai đoạn 2026-2030, Tiến sĩ Cấn Văn Lực – Chuyên gia Kinh tế trưởng Ngân hàng BIDV, thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách của Thủ tướng Chính phủ cho rằng, nền kinh tế Việt Nam đang đứng trước sự đan xen của nhiều yếu tố thuận lợi và thách thức, trong đó thách thức có xu hướng gia tăng và phức tạp hơn.

Cụ thể, trên bình diện quốc tế, kinh tế thế giới phục hồi chậm và thiếu chắc chắn, chịu tác động từ bất ổn địa chính trị, xu hướng bảo hộ thương mại, gia tăng thuế quan và điều chỉnh chính sách tiền tệ tại các nền kinh tế lớn. Với độ mở cao, Việt Nam chịu ảnh hưởng trực tiếp từ các biến động này thông qua thương mại, đầu tư và thị trường tài chính. Theo Tiến sĩ Cấn Văn Lực, mức thuế bình quân của Mỹ áp lên hàng hóa Việt Nam theo từng ngành khoảng 16%, cao hơn một số quốc gia nhưng vẫn thấp hơn nhiều nước khác, do đó tác động tới xuất khẩu chưa mang tính đột biến, đặc biệt đối với những ngành có năng lực cạnh tranh tương đối tốt.

copy-of-ban-sao-cua-canguntitled2.jpg
Xuất nhập khẩu tiếp tục là một trong những động lực quan trọng của tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2026-2030.

Ở trong nước, kinh tế tiếp tục phục hồi nhưng chưa đồng đều giữa các khu vực. Đầu tư và tiêu dùng trong nước phục hồi chậm; sức mua chưa trở lại mạnh mẽ; thị trường chứng khoán có tín hiệu tích cực nhưng chưa lan tỏa rộng, phản ánh nội lực doanh nghiệp còn hạn chế. Trong khi đó, lãi suất trong nước có xu hướng tăng từ cuối năm 2025, tạo thêm áp lực chi phí vốn cho doanh nghiệp, dù việc lãi suất Mỹ giảm đã góp phần giảm bớt áp lực tỷ giá. Chính vì vậy, theo đánh giá của Tiến sĩ Cấn Văn Lực, các biện pháp bình ổn thị trường vàng đã góp phần ổn định tâm lý và dòng tiền, qua đó hỗ trợ ổn định tỷ giá trong thời gian tới.

Một điểm nhấn quan trọng được Tiến sĩ Cấn Văn Lực đề cập đến là dư địa chính sách tài khóa-tiền tệ không còn dồi dào như các giai đoạn trước. Điều này đặt ra yêu cầu phải nâng cao hiệu quả sử dụng các công cụ điều hành, tránh dàn trải và lãng phí nguồn lực. Trong bối cảnh đó, tăng trưởng hai con số không thể đạt được nếu tiếp tục dựa chủ yếu vào mở rộng đầu tư theo chiều rộng hoặc khai thác lợi thế chi phí thấp.

Tiến sĩ Cấn Văn Lực cho rằng, thời gian qua, cấp có thẩm quyền ban hành hàng loạt nghị quyết quan trọng bao trùm toàn diện các lĩnh vực đời sống, kinh tế và xã hội, như: khoa học-công nghệ, hội nhập quốc tế, hoàn thiện thể chế pháp luật, phát triển kinh tế tư nhân, cũng như các nghị quyết liên quan đến doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Những quyết sách quan trọng này sẽ tác động trực tiếp tới môi trường đầu tư, kinh doanh. Tuy nhiên, thách thức then chốt nằm ở khâu tổ chức thực hiện. Nếu hệ thống pháp luật không tiếp tục được hoàn thiện, nếu năng lực điều hành không được nâng cao và các điểm nghẽn thể chế không được tháo gỡ thực chất, các chủ trương lớn khó có thể chuyển hóa thành động lực tăng trưởng hiện hữu.

tien-si-can-van-luc-3.png

Từ đó, Tiến sĩ Cấn Văn Lực nhấn mạnh, mục tiêu tăng trưởng hai con số gắn với yêu cầu giữ ổn định kinh tế vĩ mô là thách thức lớn, nhưng có ý nghĩa quyết định đối với việc thực hiện các mục tiêu chiến lược trong trung và dài hạn. Để thúc đẩy tăng trưởng, cần giữ vững xuất khẩu, đồng thời kích cầu đầu tư và tiêu dùng thông qua cải thiện thực chất môi trường đầu tư, kinh doanh.

Cùng với đó, cần sớm xác lập mô hình tăng trưởng mới dựa trên khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế, xử lý các dự án lớn còn vướng mắc để giải phóng nguồn lực, đồng thời cơ cấu lại đầu tư công theo hướng bền vững, tăng tỷ trọng cho khoa học-công nghệ, y tế, giáo dục và hạ tầng số.

Đầu tư công tiếp tục giữ vai trò dẫn dắt

Từ góc nhìn tổ chức và huy động nguồn lực phát triển, trao đổi với phóng viên Báo Nhân Dân, Tiến sĩ Trần Khắc Tâm - Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh Sóc Trăng cho rằng, trong giai đoạn 2026-2030, đầu tư công tiếp tục giữ vai trò đặc biệt quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế, nhất là trong bối cảnh nhiều động lực truyền thống còn gặp khó khăn. Ở đây, đầu tư công không chỉ là hoạt động chi tiêu ngân sách, mà là công cụ quan trọng để Nhà nước dẫn dắt phát triển, tạo niềm tin và kích hoạt các dòng vốn đầu tư tư nhân và đầu tư nước ngoài. Mỗi dự án hạ tầng giao thông, năng lượng, logistics khi được triển khai đồng bộ sẽ tạo ra hiệu ứng lan tỏa lớn, kéo theo nhu cầu về vật liệu, dịch vụ, khu công nghiệp và chuỗi sản xuất phụ trợ, qua đó thúc đẩy tăng trưởng và tạo việc làm.

image-76.jpg
Đầu tư công tiếp tục được xác định là động lực quan trọng dẫn dắt và lan tỏa tăng trưởng trong giai đoạn 2026-2030.

Thực tiễn giai đoạn 2021-2025 cho thấy đầu tư công chiếm khoảng 17,2% tổng vốn đầu tư toàn xã hội; cứ một đồng vốn đầu tư công tăng thêm có thể kéo theo khoảng 1,61 đồng vốn đầu tư tư nhân. Đây là minh chứng rõ nét cho vai trò “vốn mồi” của đầu tư công trong việc kích hoạt nguồn lực xã hội. Đặc biệt, cuối năm 2025, hơn 34 tỉnh, thành phố đã đồng loạt khởi công, khánh thành hàng trăm công trình, dự án. Trong nhiều dự án, vốn Nhà nước chỉ chiếm tỷ trọng khoảng 18% tổng mức đầu tư, trong khi phần lớn nguồn vốn còn lại đến từ khu vực tư nhân và các nguồn vốn khác, cho thấy hiệu quả lan tỏa của đầu tư công khi có sự phối hợp công-tư hợp lý.

Tuy nhiên, Tiến sĩ Trần Khắc Tâm cũng chỉ ra rằng, khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế là có giới hạn. Nếu đầu tư công dàn trải, thiếu trọng tâm, chậm tiến độ hoặc không gắn với nhu cầu thực tiễn của thị trường, hiệu quả sử dụng vốn sẽ giảm sút, thậm chí tạo áp lực lên cân đối ngân sách và nợ công trong trung hạn. Do đó, để đầu tư công thực sự trở thành động lực dẫn dắt tăng trưởng hai con số, cần thay đổi cách tiếp cận trong phân bổ nguồn lực. Trọng tâm không chỉ là mở rộng quy mô đầu tư, mà là lựa chọn đúng dự án, đúng lĩnh vực và đúng thời điểm.

Nhìn từ chính sách vĩ mô, Tiến sĩ Cấn Văn Lực cho rằng, đầu tư công là một trong ba trụ cột quan trọng đóng góp cho tăng trưởng kinh tế, góp phần giúp Việt Nam tăng tốc, vượt qua bẫy thu nhập trung bình và hướng tới nhóm quốc gia có thu nhập cao. Không chỉ tạo tác động trong ngắn hạn, đầu tư công còn đóng vai trò nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia thông qua phát triển hạ tầng giao thông, năng lượng, viễn thông, hạ tầng số, y tế, giáo dục…

Theo Tiến sĩ Cấn Văn Lực, giai đoạn 2021-2025 cho thấy cơ cấu đầu tư công còn mất cân đối khi khoảng 80% vốn được phân bổ cho hạ tầng nhưng mới đáp ứng được khoảng 58% nhu cầu. Tình trạng nhiều dự án chậm tiến độ, tồn đọng kéo dài làm giảm hiệu quả giải ngân; hệ số hiệu quả sử dụng vốn đầu tư (ICOR) ở mức cao phản ánh hiệu quả đầu tư chưa tương xứng. Trong khi đó, tỷ trọng chi cho giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ và y tế vẫn còn hạn chế.

Từ thực tiễn này, Tiến sĩ Cấn Văn Lực cho rằng cần tái cơ cấu đầu tư công theo hướng bền vững hơn, trong đó giảm dần tỷ trọng đầu tư hạ tầng xuống khoảng 50-55% tổng vốn, đồng thời tăng chi cho giáo dục-đào tạo lên khoảng 20%, y tế 10-12% và khoa học-công nghệ 3-5%. Đây là hướng đi nhằm nâng cao chất lượng tăng trưởng, thay vì chỉ mở rộng quy mô đầu tư.

tien-si-can-van-luc-4.png

Tiến sĩ Trần Khắc Tâm cũng cho rằng, đầu tư công cần tập trung vào các dự án có khả năng tạo hiệu ứng lan tỏa lớn, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, đồng thời hỗ trợ khu vực doanh nghiệp tư nhân phát triển. Một yếu tố thuận lợi là Việt Nam vẫn còn dư địa nhất định để mở rộng đầu tư công mà không gây rủi ro lớn về nợ công, khi nợ Chính phủ vẫn dưới 40% GDP và còn một lượng vốn ngân sách chưa giải ngân. Tuy nhiên, việc sử dụng dư địa này cần đi kèm với yêu cầu nâng cao kỷ luật tài khóa, tăng cường giám sát và đánh giá hiệu quả đầu tư, bảo đảm mỗi đồng vốn đầu tư công thực sự phát huy vai trò dẫn dắt phát triển.

Nâng cao nội lực nền kinh tế

Ở tầng sâu hơn của mô hình tăng trưởng, khi chia sẻ với phóng viên Báo Nhân Dân, Tiến sĩ Huỳnh Thanh Điền (Trường đại học Nguyễn Tất Thành) cho rằng, nâng cao năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) và tỷ lệ nội địa hóa là yêu cầu mang tính chiến lược, quyết định khả năng duy trì tăng trưởng cao và bền vững trong giai đoạn 2026-2030.

dnnn-mp-16-06-35-745.jpg
Nâng cao tỷ lệ nội địa hóa và phát triển chuỗi giá trị trong nước là yêu cầu then chốt để củng cố nội lực và duy trì tăng trưởng bền vững.

Thực tế trong giai đoạn 2021-2025, TFP đã đóng góp khoảng 47% vào tăng trưởng, phản ánh những nỗ lực cải thiện chất lượng phát triển. Tuy nhiên, năng suất lao động chỉ tăng bình quân khoảng 5,3%/năm, thấp hơn mục tiêu đề ra; tỷ lệ nội địa hóa trong công nghiệp chế biến, chế tạo dù có cải thiện nhưng vẫn còn thấp, khiến giá trị gia tăng trong nước hạn chế và nền kinh tế phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu nguyên phụ liệu. Chính vì vậy, theo Tiến sĩ Huỳnh Thanh Điền, các mục tiêu phát triển đến năm 2030 đã xác định rõ định hướng chuyển đổi mô hình tăng trưởng: TFP được kỳ vọng đóng góp trên 55% vào tăng trưởng kinh tế; năng suất lao động bình quân tăng khoảng 8,5% mỗi năm; công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm khoảng 28% GDP; kinh tế số đạt khoảng 30% GDP. Những mục tiêu này cho thấy quyết tâm chuyển mạnh từ tăng trưởng theo chiều rộng sang chiều sâu, lấy khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo làm động lực then chốt.

Tiến sĩ Huỳnh Thanh Điền nhận định, một trong những nguyên nhân cốt lõi là sự liên kết còn lỏng lẻo giữa khu vực doanh nghiệp tư nhân trong nước, khu vực đầu tư nước ngoài và khu vực Nhà nước. Ba khu vực này chưa hình thành được một hệ sinh thái thống nhất, dẫn tới việc công nghệ, tri thức và giá trị gia tăng chưa được lan tỏa hiệu quả trong nền kinh tế. Để khắc phục tình trạng này cần tập trung đồng bộ vào ba trụ cột. Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện thể chế thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh; chuyển mạnh từ tư duy “xin-cho” sang “khuyến khích - hậu kiểm”, lấy năng suất và hiệu quả làm thước đo đánh giá. Thứ hai, phát triển mạnh công nghiệp hỗ trợ, xây dựng các chuỗi sản xuất trong nước có khả năng tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu, từng bước nâng cao tỷ lệ nội địa hóa. Thứ ba, đầu tư cho nguồn nhân lực chất lượng cao, gắn đào tạo với nhu cầu thực tiễn của doanh nghiệp và yêu cầu của nền kinh tế số.

tien-si-can-van-luc-5.png

Theo Tiến sĩ Huỳnh Thanh Điền, chỉ khi năng suất được cải thiện thực chất và nội lực nền kinh tế được củng cố, mục tiêu tăng trưởng 2 con số mới có thể đạt được một cách bền vững, tránh phụ thuộc quá lớn vào vốn và lao động giá rẻ. Tăng trưởng hai con số giai đoạn 2026-2030 là mục tiêu cao, đòi hỏi cách tiếp cận toàn diện và nhất quán. Từ việc nhận diện đúng bối cảnh và giới hạn của các động lực hiện nay, tổ chức lại đầu tư công theo hướng dẫn dắt, đến nâng cao năng suất và nội lực nền kinh tế, tất cả đều quy tụ vào một yêu cầu cốt lõi: phân bổ nguồn lực hiệu quả gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng. Đây không chỉ là bài toán kinh tế, mà còn là thước đo năng lực lãnh đạo, điều hành và tổ chức thực hiện trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.

Có thể bạn quan tâm