Phát huy vai trò hạt nhân liên kết của hợp tác xã nông nghiệp

Tây Ninh xác định hợp tác xã nông nghiệp là nòng cốt trong kinh tế tập thể, giữ vai trò hạt nhân liên kết nông dân, hình thành vùng nguyên liệu tập trung, nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững.

Tác động gián tiếp khi thuế và các chi phí liên quan tăng, giá phân bón, vật tư leo thang, kéo theo chi phí sản xuất của nông dân và hợp tác xã tăng theo.
Tác động gián tiếp khi thuế và các chi phí liên quan tăng, giá phân bón, vật tư leo thang, kéo theo chi phí sản xuất của nông dân và hợp tác xã tăng theo.

Tuy nhiên, thực tiễn triển khai một số cơ chế, chính sách về thuế, tiền tệ và hỗ trợ sản xuất chưa theo kịp yêu cầu đổi mới, đang tạo ra những “điểm nghẽn”, cần sớm được tháo gỡ để hợp tác xã phát huy vai trò trong phát triển kinh tế nông thôn.

Nông dân “thiệt đơn, thiệt kép” vì chính sách

Sở Nông nghiệp và Môi trường Tây Ninh cho biết, toàn tỉnh hiện có 315 hợp tác xã đang hoạt động, trong đó 244 hợp tác xã trồng trọt, 24 hợp tác xã chăn nuôi, 16 hợp tác xã nuôi trồng thủy sản và 31 hợp tác xã tổng hợp. Tổng vốn điều lệ đăng ký hơn 372 tỷ đồng, với 9.766 thành viên, gồm 7.429 thành viên chính thức và 2.306 thành viên liên kết. Diện tích sản xuất của các thành viên gần 23.480 ha, trong đó hơn 2.120 ha sản xuất theo quy trình VietGAP. Thời gian qua, nhiều hợp tác xã đã chủ động đổi mới phương thức hoạt động, xây dựng quy trình quản trị minh bạch, ký kết hợp đồng liên kết với doanh nghiệp, tổ chức sản xuất theo tiêu chuẩn chất lượng. Tuy nhiên, đi sâu vào hoạt động thì không ít hợp tác xã đang đối diện với áp lực gia tăng từ chi phí sản xuất và nghĩa vụ thuế.

Ông Lê Minh Trung, Chủ tịch Hội đồng quản trị Hợp tác xã Dịch vụ nông nghiệp Minh Trung cho biết, chủ trương khuyến khích liên kết sản xuất, xây dựng vùng nguyên liệu lớn là hoàn toàn đúng. Song trong quá trình triển khai, một số quy định chính sách đang phát sinh những vướng mắc. Chi phí canh tác bình quân mỗi ha hiện dao động từ 200-300 triệu đồng/vụ, trong khi mức hỗ trợ chỉ khoảng 7-15 triệu đồng/ha. Khoảng cách lớn giữa chi phí thực tế và mức hỗ trợ khiến chính sách chưa tạo được lực đẩy như kỳ vọng.

Đáng chú ý, từ giữa năm 2025, một số quy định thuế mới được áp dụng, khiến phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và nhiều khâu trong chuỗi liên kết qua hợp tác xã phát sinh thêm nghĩa vụ thuế. Hệ quả là chi phí đầu vào tăng lên, trong khi giá đầu ra của nông sản lại phụ thuộc vào thị trường, khó có thể điều chỉnh tương ứng. Đối với sản xuất nông nghiệp, đặc thù sản phẩm tươi sống, khó bảo quản dài ngày, chịu sức ép lớn về thời gian tiêu thụ. Khi thị trường chậm, nông sản buộc phải bán nhanh để tránh hư hỏng, nhiều trường hợp người thu mua phải chia sẻ gánh nặng thuế bằng cách hạ giá mua.

Tình trạng này đẩy nông dân vào thế “thiệt đơn, thiệt kép”, chi phí đầu vào tăng, giá bán đầu ra giảm, lợi nhuận bị thu hẹp đáng kể. Trong khi đó, mô hình hợp tác xã hiện đại đòi hỏi phải ghi nhận doanh thu toàn chuỗi, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế, bảo đảm minh bạch tài chính. So với sản xuất nhỏ lẻ trước đây, mức nghĩa vụ phát sinh cao hơn là điều tất yếu. Tuy nhiên, trong bối cảnh thị trường còn nhiều biến động, sức chống chịu của hợp tác xã và nông dân còn hạn chế, việc gia tăng áp lực chi phí có thể làm suy giảm động lực tham gia liên kết của một bộ phận thành viên.

Hợp tác xã mắc kẹt vì chính sách

Nhìn tổng thể, các hợp tác xã đều xác định tuân thủ pháp luật là yêu cầu bắt buộc, là nền tảng để phát triển bền vững và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị. Tuy nhiên, từ thực tiễn sản xuất, nhiều ý kiến từ hợp tác xã cho rằng chính sách cần xác định tính đặc thù của nông nghiệp và tính chất liên kết của mô hình sản xuất.

Ông Nguyễn Viết Vị, Giám đốc Hợp tác xã Phước Thiện cho rằng, nếu hệ thống quản trị nội bộ được xây dựng bài bản, việc thay đổi chính sách thuế không gây xáo trộn lớn về mặt sổ sách. Tuy nhiên, tác động gián tiếp khi thuế và các chi phí liên quan tăng, giá phân bón, vật tư leo thang, kéo theo chi phí sản xuất của nông dân và hợp tác xã tăng theo. Trong khi đó, giá nông sản phụ thuộc cung-cầu thị trường, không thể điều chỉnh tương ứng, khiến lợi nhuận toàn chuỗi bị thu hẹp.

Bên cạnh vấn đề thuế, quy định về thanh toán tiền mặt và quản lý dòng tiền cũng đặt ra thách thức không nhỏ. Nhiều giao dịch thu mua nông sản có giá trị lớn, song quy định giới hạn thanh toán tiền mặt không quá 5 triệu đồng buộc hợp tác xã phải thực hiện chuyển khoản qua ngân hàng. Trong mùa vụ cao điểm, giao dịch diễn ra dồn dập, nếu ngân hàng nghỉ cuối tuần hoặc hệ thống quá tải, việc thanh toán cho nông dân có thể bị chậm trễ, ảnh hưởng đến tiến độ thu mua và lưu thông hàng hóa. Dù là khó khăn mang tính kỹ thuật, nhưng tác động trực tiếp đến hoạt động sản xuất, kinh doanh và tâm lý người dân.

Từ thực tiễn trên, nhiều hợp tác xã tại Tây Ninh và một số địa phương kiến nghị Trung ương sớm nghiên cứu, hoàn thiện cơ chế ưu đãi thuế rõ ràng, ổn định đối với dịch vụ nông nghiệp và hoạt động liên kết sản xuất. Hàng hóa của hợp tác xã và nông hộ chủ yếu là nông sản thiết yếu, gắn với an ninh lương thực và sinh kế của người dân, không thuần túy mang tính thương mại. Vì vậy, cần có sự phân định minh bạch giữa dòng tiền nông nghiệp với dòng tiền thương mại, kèm theo hướng dẫn pháp lý cụ thể, tránh lúng túng trong áp dụng.

Việc tháo gỡ kịp thời các “điểm nghẽn” về thuế, tiền tệ và cơ chế quản lý không chỉ giúp hợp tác xã vượt qua khó khăn trước mắt, mà còn tạo nền tảng lâu dài để kinh tế tập thể phát triển vững chắc, đóng góp tích cực vào mục tiêu phát triển nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại, nông dân văn minh trong giai đoạn mới.

Có thể bạn quan tâm