Mô hình gắn kết hộ giữa các hộ người Kinh là công nhân với các hộ người dân tộc thiểu số đã và đang mang lại hiệu quả thiết thực, góp phần làm giàu, làm đẹp Tây Nguyên, củng cố quốc phòng-an ninh, tình đồng chí, nghĩa đồng bào ngày thêm sâu nặng.
Nước mắt một thời
Câu chuyện ấy được Ðại tá Nguyễn Minh Ðức, Phó Chủ nhiệm chính trị Binh đoàn 15 kể trong một chiều mưa. Tháng 11-2011. Những con đường đất ba-dan đỏ quánh. Gió se se lạnh. Những đám mây xám xa mờ trên dãy Trường Sơn vắt mình sang mùa khô. Rừng cao-su chạy miên man từ TP Plây Cu qua Ðức Cơ tới vùng biên giới Cam-pu-chia. Chuyện rằng: Hàng nghìn năm trước, cây cao-su mọc hoang ở khu vực rừng A-ma-dôn, Nam Mỹ. Thổ dân vùng này dùng nhựa cao-su tẩm vào quần áo chống ẩm ướt. Dòng nhựa trắng ấy được gọi bằng tiếng địa phương là caouchouk, nghĩa là "nước mắt của cây". Cuối thế kỷ 19, loài cây-nước mắt ấy được đưa vào Việt Nam, gắn với thân phận người dân mất nước, gắn với những câu ca dao buồn muôn thuở: "Cao-su đi dễ khó về/khi đi trai tráng khi về bủng beo".
Câu chuyện buồn kéo dài đằng đẵng hàng thế kỷ. Cây cao-su và đất rừng cao nguyên gắn bó với con người qua những năm kháng chiến, thủy chung với con người những ngày đói rét, lầm than. Vậy mà, tới những năm 80 của thế kỷ trước vùng đất đỏ vẫn còn nghèo lắm. Ðói nghèo cùng với những hủ tục đeo đẳng như con vắt bám chân người. Ðói cơm, khát muối, đau ốm không có thuốc chữa bệnh. Thời ấy trong các plơi (làng, buôn) người dân có tục táng chung người quá cố trong một áo chik. Cái áo chik là một cây rừng rất to đã được lột vỏ, móc ruột mất cả tháng trời, đặt nổi hai phần ba trên mặt đất. Cha chết mấy tháng trước. Mấy tháng sau không may con chết, lá xanh theo lá vàng, lại táng chung cùng cái áo với cha. Người dân ở đây quan niệm rằng, khi sống ở chung một nhà thì khi chết phải mặc chung một áo cho có cha mẹ, anh em (!).
Binh đoàn 15 thành lập tháng 2-1985, và chỉ sau bốn năm đã trồng được gần 3.000 ha cao-su. Ðó là những ngày đầu gian khổ. Ðất hoang hóa luyện ta thành cứng cáp. Thiếu tướng, Tư lệnh Binh đoàn Nguyễn Xuân Sang - bấy giờ là Thượng tá. Ông nhiều lần đến các đơn vị, nhiều lần phải ăn quả bơ thay cơm. Bộ đội còn đói, dân còn đói. Trồng cây cao-su phải năm đến bảy năm sau cây mới cho mủ, mà chắc gì đã bán được. Không phải không có ý kiến bàn lui: Thôi, chắc ăn, hãy cứ trồng cây tiêu, cây lúa, cây mì (sắn) lấy cái bỏ bụng. Tư lệnh nói: Sau này cao-su cho thu hoạch, diện tích mở rộng, năng suất tăng cao, thì cụm từ "cây chiến lược trên địa bàn chiến lược" hình thành.
Câu chuyện về nước mắt của cây được nhiều người nhắc tới. Cán bộ các công ty kể. Già làng kể. Kể chuyện buồn để càng thấm thía hơn niềm vui bây giờ. Tôi nhớ mãi hình ảnh nhóm lửa gọi người của anh Trần Quang Hùng, người đã gắn bó với Tây Nguyên hơn 30 năm. Từ một người lính binh nhì, bây giờ anh là Ðại tá, Giám đốc Công ty 74. Một nhà thơ Tây Nguyên tặng anh bài thơ, có câu "tuổi đời lặn tuổi cây cho đất bạc hóa vàng". Anh Hùng chậm rãi kể: "Các anh có hình dung được không, hơn hai mươi năm trước, khi chúng tôi tới Gia Lai vẫn còn rất quen hình ảnh phát cỏ làm đất bằng liềm, bằng dao, chọc lỗ, bỏ hạt. Cả buổi sáng vạt đất chỉ được chừng mấy cái chiếu. Ðàn bà, con gái rủ nhau lên rẫy. Họ ngồi quây quần, vấn thuốc rê hút. Ðiếu thuốc to như ngón chân cái. Tàn điếu thuốc mới ngồi xệp xuống dùng liềm, dùng dao phát cỏ. Buổi tối dân làng đi ngủ sớm. Rét thấu xương. Chúng tôi vào làng, chả làm sao gặp được ai, bèn nghĩ cách, lấy mấy cành củi khô đốt lên đống lửa ven đường. Lát sau có nhà hé cửa. Rồi gọi nhau. Rồi mọi nhà sáng đèn. Họ đổ ra đường xem bộ đội đốt lửa. Thế rồi bên ngọn lửa ấm, bộ đội kể cho bà con nghe về chuyện trồng cao-su. Phải trồng cây cao-su, cà-phê, tiêu... thì mới khỏi đói cái bụng, có nhiều tiền để làm cái nhà to. Già làng ngồi lặng, vầng trán im phắc: Thế bộ đội làm, rồi bày cách cho dân làm thử". Từ cái đêm nhóm lửa ấy, từ câu chuyện giản dị ấy, sau này thành một chủ trương lớn trong công tác dân vận của Binh đoàn: Binh đoàn gắn với tỉnh, huyện; công ty gắn với huyện, xã; đội sản xuất gắn với xã, thôn, bản.
Trồng cây cao-su, trồng "cây đoàn kết"
Những ngày về tìm hiểu mô hình gắn kết hộ ở Binh đoàn 15, chúng tôi đã tới bốn công ty 74, 75, 715, 72, về các huyện Ðức Cơ, Ia Grai (tỉnh Gia Lai) xuống nhiều xã, thôn, buôn ở vùng sâu, vùng xa giáp biên giới Cam-pu-chia. Một câu hỏi được hỏi nhiều người, từ đồng chí giám đốc, bí thư Ðảng ủy, từ các chủ hộ được gắn kết là người Kinh và người dân tộc thiểu số, đến đồng chí bí thư, chủ tịch xã, tới các già làng, trưởng bản. Câu hỏi ấy là: "Gắn kết hộ mang lại lợi ích gì? Liệu có "hình thức" không? Bà con có tự nguyện, có vui không?".
Chúng tôi đã tới nhiều buôn, làng, ngắm nhìn no mắt mầu xanh bất tận những cánh rừng cao-su. Dọc hai bên quốc lộ 14, những thảm hoa mi-mô-da vàng rực. Cao nguyên trầm hùng và thơ mộng. Và như văng vẳng đâu đây giọng kể những trường ca bất hủ Ðam San, Xinh Nhã, Ðăm Di, cùng thánh thót tiếng đàn Tơ rưng, Krông pút, Tưng nưng... Chỉ tiếc không được cùng vào rừng với người công nhân lúc hai giờ sáng. Ấy là lúc họ trở dậy, gửi con nhỏ vào nhà trẻ. Họ "khoác trên vai màn sương mong manh, mảnh trăng mờ khuyết". Theo các nhà khoa học, cây cao-su có chu trình sinh trưởng đặc biệt, phải sau 1 giờ đêm đến trước khi mặt trời mọc mới cạo được mủ và mới là mủ tốt. Mủ cao-su được cạo vào thời gian này chu trình tạo mủ mới đều và dày. Dậy sớm trước con gà gáy với người dân các dân tộc thiểu số thật sự là một cuộc cách mạng vô cùng gian khó.
Trở lại câu hỏi trên, có rất nhiều câu trả lời vừa khái quát, vừa giàu hình ảnh. Xin ghi lại những câu trả lời ấn tượng.
Ông Rơ Mah Lel, Chủ tịch UBND xã Ia Kriêng: "Gắn kết à, tốt đấy! Ai nhiều tuổi thì là anh, ít tuổi là em. Hộ công nhân người Kinh thường có kinh nghiệm làm ăn, bảo cách giúp người anh em. Không chỉ nói về cách trồng cây cao-su, cây cà-phê đâu, còn bảo cách tiêu tiền, giữ tiền để làm nhà to; bảo nhau chuyện ma chay, cưới xin theo nếp sống mới. Không có gắn kết, người dân địa phương sẽ nghèo đấy". "Thế hộ chủ tịch đã gắn kết chưa?". "Ô, chưa. Phó Chủ tịch thì gắn rồi. Chủ tịch muốn gắn kết với hộ Giám đốc đấy". (Mọi người cùng cười vui vẻ).
Anh Vũ Hải Ba, công nhân đội 7, Công ty 75, gắn kết với hộ già làng Rơ Mah Hoắk, thôn Yít Yông 1, xã Iadin (huyện Ðức Cơ): "Gia đình tôi may mắn được gắn kết với gia đình chú Hoắk là già làng, có uy tín nhất trong làng. Nhờ biết làm kinh tế, già làng đã xây được nhà to, trồng hai ha cao-su, 250 trụ tiêu. Hai gia đình thường xuyên qua lại thăm hỏi nhau. Tôi thường giúp con cháu chú Hoắk về kỹ thuật trồng các loại cây, kỹ thuật cạo mủ cao-su, tưới cà-phê đúng kỹ thuật; động viên các cháu chăm học để có nhiều cái chữ. Vừa rồi em Rơ Ma Hoan được giải ba của công ty trong hội thao kỹ thuật cạo mủ cao-su".
Anh Rơ Châm Dih, làng Tung Trúc, xã Ia Khai (huyện Ia Grai), gắn kết với hộ Bá Ðình Lý, công nhân đội 3, Công ty 715: "Anh Lý là anh đấy. Nhờ anh Lý mình biết cách cầm dao, mài dao, biết cạo mủ cao-su đúng cách, để có năng suất mủ cao, để tăng tuổi thọ cho cây. Cán bộ hỏi lương à? Ðược bốn triệu đồng một tháng. Thêm khoản vườn riêng nhà mình thu 10 triệu đồng một tháng nữa. Anh Lý còn bày cho cách gửi tiết kiệm. Nhà này mình xây rộng hơn 100 m2, hết hơn 300 triệu đồng. Lại sắm được xe máy, tủ lạnh, máy giặt".
Vậy là câu trả lời đã rõ trong thực tiễn. Các đồng chí Tư lệnh, Chính ủy Binh đoàn 15 nhấn mạnh: Những năm qua nếu không làm tốt công tác dân vận, mà cụ thể là thực hiện tốt mô hình gắn kết hộ thì đơn vị không thể hoàn thành tốt nhiệm vụ phát triển kinh tế gắn với quốc phòng-an ninh, xây dựng dân cư - xã hội trên địa bàn, tập trung mũi nhọn là phát triển cây cao-su, cà-phê, từng bước làm cho Tây Nguyên phát triển mạnh cả về kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh. Tư tưởng giúp dân tức là làm quốc phòng được quán triệt sâu sắc trong các đơn vị, công ty. Mặc dù các thế lực thù địch, bọn phản động phun-rô lưu vong thường xuyên móc nối với bọn phản động trong nước, lợi dụng các vấn đề dân tộc, dân chủ, tôn giáo, nhân quyền để xúi giục đồng bào dân tộc thiểu số theo Ðạo "Tin lành Ðềga"; tạo cớ kích động mọi người tham gia gây rối, biểu tình, bạo loạn chính trị, nhưng trong các buôn làng bộ đội đóng quân, nhất là nơi các hộ gia đình người Kinh và người dân tộc thiểu số đã gắn kết, không có trường hợp nào tham gia biểu tình.
Mô hình gắn kết hộ được thực hiện thí điểm ở Công ty 74 từ năm 2006. Bí thư Ðảng ủy Rơ Ma Uếp - xã Ia Kla (huyện Ia Grai) - kể: Gắn kết hộ hợp với phong tục của người Gia Rai. Ngày xưa khi kết nghĩa anh em, bạn vàng thì làm thế này: mỗi bên góp một con gà, một con lợn và một ché rượu. Trước sự chứng kiến của gia đình, dòng tộc, hai người nhận anh em ngồi đối diện. Thầy cúng ngồi giữa, sau khi cắt cổ gà lấy máu nhỏ vài giọt vào chiếc tô bằng đồng, khấn rằng: "Ơ Giàng núi, Giàng sông, Giàng rừng, Giàng nhà, Giàng đất! Hôm nay chúng tôi tổ chức kết nghĩa bạn vàng, mời tất cả Giàng về chứng giám. Từ nay họ là bạn vàng của nhau, khó khăn giúp nhau, sống chết có nhau, ai có lòng chia rẽ sẽ bị Giàng trừng phạt. Ơ Giàng... Ơ Giàng!". Thời nay, bộ đội với dân tổ chức gắn kết "bạn vàng" trang trọng, vui vẻ. Nhờ gắn kết hộ đã tạo điều kiện giúp đỡ, giải quyết việc làm cho đồng bào dân tộc thiểu số địa phương, ngược lại cũng tạo điều kiện để các hộ người Kinh hiểu phong tục, tập quán, gần gũi hơn, gắn bó với bà con. Việc gắn kết hộ bắt đầu từ những việc cụ thể trong đời sống hằng ngày, như đưa con đến trường, đi khám bệnh; hướng dẫn cách ăn ở hợp vệ sinh, tặng nhau tủ, chạn đựng bát đũa tránh ruồi muỗi, đến cách thức cải tạo vườn tạp. Dần dần việc gắn kết thể hiện ở mức cao hơn. Các hộ giúp nhau hướng dẫn quy trình chăm sóc các loại cây cao-su, cà-phê, tiêu, điều, lúa nước; hướng dẫn kỹ thuật cạo mủ, làm máng che mưa; kỹ thuật tỉa chồi, cắt cành, tạo tán, thu hái cà-phê, v.v.
Từ điểm sáng ở Công ty 74, đến nay toàn Binh đoàn đã có 1.985 cặp hộ gia đình gắn kết; vận động, thu hút hơn 15 nghìn lao động vào làm công nhân các đội sản xuất; giao khoán hàng nghìn ha cao-su cho lực lượng lao động địa phương chăm sóc, khai thác.
(Còn nữa)
HẢI ÐƯỜNG