Nhớ Ứng Hòe Nguyễn Văn Tố

Nhà khảo cứu văn hóa hết lòng hy sinh vì nước vì dân

NDĐT - Hội thảo khoa học “Nguyễn Văn Tố - Cuộc đời và sự nghiệp” do Ban Tuyên giáo Thành Ủy Hà Nội phối hợp với Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chi Minh tổ chức tại Hà Nội, ngày 15-12, đã khắc họa chân dung một nhà khảo cứu văn hóa lớn mà tình cảm cùng với hành độngcủa ông đã đồng hành với xu hướng chung của lịch sử trong cuộc vận động cách mạng giải phóng dân tộc

Các nhân viên của EFEO, cụ Nguyễn Văn Tố đứng thứ hai ở giữa.
Các nhân viên của EFEO, cụ Nguyễn Văn Tố đứng thứ hai ở giữa.

Nguyễn Văn Tố, bút hiệu Ứng Hòe, sinh ngày 5-6-1889 trong một gia đình nho học. Nhà ông ở phố Bát Sứ (nay thuộc quận Hoàn Kiếm, Hà Nội) giữa “36 phố phường” đông đúc, tấp nập bán mua.

Trong sự giáo dục gia đình từ lúc còn nhỏ, Nguyễn Văn Tố đã có một vốn kiến thức phong phú về Hán Nôm, về lịch sử và văn hóa Việt Nam và phương Đông. Khi lớn hơn, ông được học tiếng Pháp và tiếp thu thêm văn hóa Pháp. Ở Nguyễn Văn Tố có sự kết hợp giữa hai nền văn hóa Việt Nam và Pháp, kết hợp hai nền văn minh Đông và Tây trên nền tảng bền vững của cốt cách, tâm hồn Việt Nam, truyền thống văn hóa dân tộc - trước hết là lòng yêu nước, tinh thần dân tộc.

Sau khi tốt nghiệp Trường Thông ngôn, Nguyễn Văn Tố được nhận vào làm việc tại Trường Viễn Đông bác cổ (Ecole française d' Extrême-Orient - EFEO). Từ chức danh khởi đầu chỉ là nhân viên phụ tá, với sự cần mẫn và uyên bác của mình, ông đảm nhiệm tới chức danh Chủ sự. Số đông các học giả làm việc ở EFEO thời đó là người Pháp, Nguyễn Văn Tố là một trong những trường hợp đặc biệt cùng với những tên tuổi trí thức Việt Nam khá nổi tiếng khác như Nguyễn Văn Huyên, Trần Văn Giáp, Nguyễn Thiệu Lâu...

Ở EFEO, Nguyễn Văn Tố là người Việt Nam duy nhất được phép sửa văn Pháp cho mọi bài viết đăng trên Tạp chí của Viễn Đông bác cổ (BEFEO), kể cả bài viết của giám đốc người Pháp.Thậm chí Giám đốc Viện Viễn Đông bác cổ (từ năm 1929 đến năm 1946) George Coedès có lần còn nói với Nguyễn Văn Tố: “Ông cứ chữa trực tiếp vào bản thảo đi, nhưng ông chịu trách nhiệm đấy nhé”.

Nguyễn Văn Tố bản tính khảng khái, trung thực. Ông sống giản dị, không màng danh lợi. “Ông phán Tố”, như mọi người quen hay gọi, không bao giờ đi xe đạp hay xe kéo mà đi bộ từ nhà đến cơ quan.

Những năm 30 - 40 của thế kỷ 20, người Hà Nội không mấy người không biết đến hình ảnh một trí thức người Việt hàng ngày mặc áo the, đóng khăn xếp, từ phố Bát Sứ nhà mình đi bộ đến nơi làm việc tại Viện Viễn Đông bác cổ Pháp (nhà số 26 phố Lý Thường Kiệt hiện nay). Ngày nắng cũng như ngày mưa, ông cần mẫn đi men theo tường phố. Cần mẫn đến mức thành tên “Ông phán men”. Sau này Chủ tịch Hồ Chí Minh khi hiểu biệt danh “Ông phán men” của Nguyễn Văn Tố còn nhắc đồng sự cấp dưới của mình: “Quân tử men theo tường mà đi” - chú biết ai nói câu đó không ? Khổng Tử nói đấy”. Ông không bao giờ mặc âu phục mặc dù làm việc cho một cơ quan nghiên cứu của người Pháp. Bộ “quốc phục”áo the - khăn xếp - giày Gia Định còn theo Nguyễn Văn Tố cho đến sau Cách mạng Tháng Tám 1945.

Nguyễn Văn Tố là một nhà khảo cứu lớn. Kiến thức uyên bác, thái độ nghiêm túc, phong thái ung dung, bản lĩnh vững vàng và bao trùm lên tất cả con người và trước tác của ông là tinh thần yêu nước, ý thức dân tộc cao. Những trang viết về lịch sử, văn hóa dân tộc của ông không chỉ nâng cao hiểu biết về lịch sử, văn hóa dân tộc mà còn gợi lên những suy nghĩ về tinh thần yêu nước. Những công trình nghiên cứu liên ngành và chuyên sâu, bao quát nhiều lĩnh vực khoa học xã hội như: sử học, khảo cổ học, văn học, ngôn ngữ học, dân tộc học, tôn giáo học, văn hóa học, văn hóa dân gian… của Nguyễn Văn Tố đã gây được tiếng vang lớn. Những bài khảo cứu của Nguyễn Văn Tố tập trung trên các lĩnh vực chính: Giới thiệu và đính chính sử liệu; Khảo cứu các văn bản cổ; Khảo cứu về văn hóa, văn học; Khảo cứu và tranh luận về các vấn đề lịch sử Việt Nam. Nguyễn Văn Tố đã thể hiện rõ là một học giả nắm vững các nguồn tư liệu và có phương pháp nghiên cứu hiện đại.

Vì cách thống kê, khảo cứu thư tịch rất công phu, ghi rõ tờ a, tờ b mà của Nguyễn Văn Tố bị một số người đương thời coi là loại “học giả tờ a, tờ b”, thậm chí là “thủ cựu”, “nệ cổ”... Nhưng đóchính là cách khảo cứu theo phương pháp thư tịch học, văn bản học hiện đại. Tư liệu, theo quan niệm của Nguyễn Văn Tố, không phải chỉ là “văn thư” (tức tư liệu chữ viết) mà “còn ở các đồ cổ tích nữa”(tức các di tích, di vật). Đó là một quan niệm mới ở thời đó về sử liệu học.

Nguyễn Văn Tố còn nhận thức lịch sử không phải chỉ viết về “các đời vua” mà còn phải đa dạng, bao quát nhiều mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, bao gồm sinh hoạt của dân chúng, quân sự, giáo dục, quan hệ với nước ngoài... Đây một quan niệm lịch sử khá hiện đại. Nhưng hơn hết, sau những kê cứu khô khan và cần mẫn của Nguyễn Văn Tố là những sự thật lịch sử được xác minh,là những giá trị văn hóa và những trang sử dân tộc được làm sống lại.

Học giả Nguyễn Văn Tố.

Sau Cách mạng Tháng Tám, Chủ tịch Hồ Chí Minh mời Nguyễn Văn Tố tham gia Chính phủ lâm thời, giữ cương vị Bộ trưởng Bộ Cứu tế xã hội. Ông hăng hái xông pha tổ chức,vận động nhân dân chống “giặc đói”, “giặc dốt”.Ngày 2-3-1946, tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa 1, Nguyễn Văn Tố được bầu là Trưởng ban Thường trực Quốc hội của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trên cương vị mới, ông có những đóng góp quan trọng vào việc ký kết hai văn bản Hiệp định 6-3 và Tạm ước 14-9-1946, giúp Đảng và Chính phủ có thêm thời gian để chuẩn bị lực lượng kháng chiến lâu dài. Ông còn trực tiếp cùng Quốc hội xây dựng Hiến pháp năm 1946 - bản Hiến pháp đầu tiên ghi dấu nhiều giá trịlịch sử. Từ tháng 10-1946, ônggiữ chức Bộ trưởng không bộ trong Chính phủ. Toàn quốc kháng chiến, ông cùng Chính phủ lên Việt Bắc. Tháng 10-1947, Pháp cho quân nhảy dù xuống Bắc Cạn âm mưu tiêu diệt đầu não kháng chiến của ta, Nguyễn Văn Tố bị bắt và hy sinh như một anh hùng liệt sĩ. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viêt Lời điếu khóc ông: “Cụ dù hy sinh, tinh thần cụ ngàn thu sẽ vẻ vang bất diệt… Chính phủ khôn xiết buồn rầu, đồng bào khôn xiết nỗi lòng thương tiếc”.

Hành trình nghiên cứu khoa học và hoạt động xã hội của học giả Nguyễn Văn Tố nằm trong xu hướng chung của những trí thức yêu nước thời đó. Việc tham gia tích cực và vai trò nổi bật của Nguyễn Văn Tố trong Hội Truyền bá chữ quốc ngữ và sự hiện diện của ông trong Chính phủ lâm thời, theo chính sách cầu hiền, với chủ trương của Chủ tịch Hồ Chí Minh “tìm người tài đức”, “tập trung nhân tài, bất phân đảng phái”để tăng thêm sức mạnh trí tuệ cho công cuộc kháng chiến và kiến quốc cũng là điều dễ hiểu. Tình cảm và hành động của học giả Nguyễn Văn Tố đã đồng hành với xu hướng chung của lịch sử trong cuộc vận độngcách mạng giải phóng dân tộc.

Có thể bạn quan tâm