Nâng niu trên tay tổ chim khâu chặt dưới cuống lá vàng úa, chợt liên tưởng ngôi nhà mình cũng chông chênh, nghiêng ngả và dễ đổ vỡ lắm. Nếu chỉ coi là nơi trú nắng, tránh mưa, thì có hơn gì đôi chim sâu kia. Công sức, thời gian chúng bỏ ra để tha từng cọng rơm rác, cắp từng sợi cỏ khô về miệt mài xây tổ, chắc cũng vất vả, khó nhọc như mình chắt bóp từng đồng. Giật gấu vá vai dựng lên ngôi nhà bê-tông, cốt thép trên nền nhà cấp bốn xập xệ, dột nát. Lát nữa, chờ cho mưa tạnh, gió ngừng, anh sẽ trở về nhà mình. Hết ngày khi chạng vạng, là lúc gà lên chuồng, chim tìm về tổ, người trở về nơi bước chân đi. Nơi níu kéo mình quay về, đâu phải nhà cao, cửa rộng, đầy đủ tiện nghi, điều hòa mát rượi. Mà trở về vì một gia đình đang mỏi mắt mong đợi bên mâm cơm nguội lạnh. "Vắng đàn ông quạnh nhà…", mẹ anh thường nói thế. Chỉ đến khi có một gia đình riêng, anh mới thật thấm thía. Dăm năm trước, những lúc xế chiều, tắt nắng, rời cơ quan, chẳng hiểu có sức hút, ma lực gì níu kéo chân anh sa đà vào những quán bia, quán nhậu không dứt ra nổi. Chuyện miên man, sôi động. Nơi để xả bức bối sự đời, sự nghiệp, cho hả. Tưởng thế thôi, chỉ là cái cớ để bù khú, mượn hơi men và giết thời gian. Ðến khi tàn cuộc, chếnh choáng, đôi lúc quên cả đường về nhà như kẻ vô gia cư, không nơi nương tựa. Hết ngày dài đến đêm thâu. Vô vị, nhạt nhẽo và vô nghĩa. Có khác gì một kẻ ở trọ, sống tạm cho qua ngày, đoạn tháng…
Cho đến cái đêm, muộn hơn đêm nay. Cũng mưa to, gió lớn bất chợt trút xuống khi anh về gần tới nhà, sau một cuộc nhậu say sưa. Chỉ kịp trú vội dưới mái hiên nhà trọ chật hẹp ngay đầu ngõ. Gọi là nhà vì mái lợp tôn, kê vừa đủ mấy tấm phản. Một mẩu đất cỡ manh chiếu là nơi đun nấu. Thế thôi, mà cũng thành một gia đình. Chồng chở xe "ôm", vợ bán đồng nát, làm ô-sin dọn dẹp, lau chùi thuê. Nhiều lần chị đã đến nhà anh quét dọn, vệ sinh sạch như ly như lau, như nhà mình. Giá như không có cơn mưa, không đứng trú và ngó vào, anh chẳng thể hình dung ngay sau lưng những ngôi nhà ba bốn tầng rộng rãi, thoáng mát lại có những ngóc ngách, kẽ hẻm. Gọi là chỗ "chui ra, chui vào", chứ đâu phải là nhà. Vậy mà, qua cánh cửa xộc xệch khép hờ, anh nghe tiếng cười nói của đôi vợ chồng tha phương cầu thực, tỏa ra ngoài trời mưa gió ớn lạnh. Người ta nói, căn nhà được xây lên bằng những viên gạch, bằng xi-măng, sắt thép. Còn gia đình, được cất dựng bằng tình yêu thương, đùm bọc. Bây giờ, khi đứng co ro dưới mưa, như con chim lạc đàn chẳng biết đâu mà về, anh mới nhận ra điều giản dị đó sao? Thực lòng, anh đã đôi lúc loáng thoáng cảm nhận thấy con cái xa lạ với mình. Trong ánh mắt hờ hững, trong nụ cười gượng gạo và trong lời nói miễn cưỡng. Xa lạ như người dưng giữa hai vợ chồng đã một thời chạy vạy, ăn đong từng bữa. Vay hàng xóm từng bơ gạo, chai dầu. Chính trên nền nhà cấp bốn lụp xụp, mưa dột phải căng mảnh ni-lông, hứng chậu, chồng nhường vợ góc giường khô ráo, từ hai bàn tay trắng họ đã vay công, mượn nợ, nhịn ăn, nhịn mặc để có được cơ ngơi như bây giờ. Hồi ấy cứ nghĩ là sẽ chẳng bao giờ ngẩng mặt, ngóc đầu lên được. Mà vẫn phải một nách hai con nhỏ. "Trời không đóng cửa ai", ngày xưa mẹ nói vậy. Nhưng mỗi thời, mỗi khác, ai cũng thừa nhận thế. Khác ngay từ trong căn bếp, mâm cơm chiều tối. Bếp củi, bếp dầu, bếp than biến mất. Bếp ga, bếp điện, bếp từ chiếm chỗ. Vừa tiện, vừa nhanh lại chẳng lấm lem mặt mũi, tay chân. Sướng nhất là không khí tuyệt nhiên trong sạch, mùi khói củi, mạt cưa, tro than tự dưng bay đâu mất. Cái mùi nhếch nhác, lam lũ, thiếu thốn đã thấm vào ký ức cũng tan biến theo, muốn tìm lại mà chẳng thấy. Hay là như người ta thường bảo, "Khổ mãi quen rồi, sướng không chịu nổi". Nghe tưởng vô lý, lại có lý. Khi sống chật chội, chui rúc, người ta gần gũi, gắn bó hơn. Khi thiếu ăn, thiếu mặc, người ta cần chia sẻ, nhường nhịn. Một khi đã đầy đủ, dư dả và dư thừa, đâu cần phải san sẻ, bù đắp cho đầy. Một khi vật chất, tiền bạc đã viên mãn, tự nhiên lại cảm thấy thiếu một chút gì đó, nhỏ nhoi rất khó gọi tên. Giống như một món đặc sản, một mâm cơm đầy đặn, nhưng chẳng hiểu sao, nhúng đũa, chạm môi cứ thấy nhạt nhẽo. Như thiếu mặn, thiếu ngọt, thiếu đậm đà. Khác hẳn bữa cơm đạm bạc ngày xưa mẹ nấu. Cũng không như mâm cơm chính tay vợ anh làm. Có gì đâu, một bát canh cua lõng bõng, đĩa tôm riu với dăm quả cà pháo. Hay một nồi canh dưa lèo tèo cà chua, "chạy qua" hàng tóp mỡ, bì lợn. Thế thôi, mà mặn mà, dư vị dường như còn đọng mãi…
Mưa đã dứt hẳn, lững thững trở về nhà như mọi tối. Có điều, bước chân anh gấp hơn, ruột gan nóng hơn, bồn chồn khác thường. Khác ngay ở sâu trong lòng mình, khi chợt cảm thấy một khoảng trống rỗng lẽ ra phải lấp đầy. Bởi những gương mặt, nụ cười thân thương của vợ và con. Bởi hơi ấm bàn tay, ánh mắt… Những vại, chai, lon bia sủi bọt, đầy rồi vơi, "đổ" bao nhiêu thì bịt kín được "lỗ hổng" tổ ấm? Khoảng thời gian còn lại của một ngày, có nhiều nhặn gì. Nếu không quây quần, xum họp bên mâm cơm, mỗi người một đường, một nẻo, thì có hơn gì những người lỡ bước sa cơ, màn trời chiếu đất. Chỉ đến lúc này, sau khi ngó vào góc nhà tồi tàn của vợ chồng người chở "xe ôm", anh mới thật sự ngẫm thấy, mình đang để tuột khỏi tay những thứ mà nhiều người nai lưng làm lụng, tất tả ngược xuôi để có được. Còn mong cái gì khác ngoài những thứ mình đang có. Nếu nhà không còn nóc, dột từ trên nóc dột xuống, có khác gì nhà hoang. Và chắc gì đã bằng một túp lều tranh, hay mái nhà tạm lợp tôn, phi-brô xi-măng…
Ghi chép