Tọa đàm "Tăng cường sức đề kháng trong cuộc chiến chống vi phạm bản quyền ở lĩnh vực xuất bản" do Báo Nhân Dân tổ chức ngày 20/4 vừa qua đã đặt ra nhiều vấn đề bức thiết, đặc biệt là yêu cầu hoàn thiện hành lang pháp lý để ngăn chặn tình trạng vi phạm ngày càng tinh vi trên không gian mạng. Từ thực tiễn được phản ánh tại tọa đàm, có thể thấy rõ hai vấn đề lớn: những thách thức trong thực thi và yêu cầu cấp thiết phải hoàn thiện cơ chế pháp lý.
Những thách thức trong thực thi và kiểm soát vi phạm
Từ năm 2010 đến nay, lực lượng chức năng đã phát hiện gần 42 triệu bản sách giả, cùng khoảng 16.000 tấn vật tư in ấn bị thu giữ trên toàn quốc. Các hành vi như in lậu sách, phát tán file PDF, sao chép nội dung hay dịch thuật trái phép đều cấu thành hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Những hành vi này vi phạm trực tiếp các quy định của Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam và Luật Xuất bản Việt Nam, đồng thời đi ngược lại các cam kết quốc tế như Công ước Berne mà Việt Nam đã tham gia. Điều này cho thấy vi phạm bản quyền không chỉ là hành vi trong nước mà còn ảnh hưởng đến uy tín quốc gia trên trường quốc tế.
Theo Tiến sĩ Phạm Vĩnh Thái, Giám đốc Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, trong bối cảnh công nghệ số phát triển mạnh mẽ, vi phạm bản quyền trên không gian mạng đang ở mức báo động. Nhiều website đã sử dụng trái phép nội dung sách giáo dục để khai thác thương mại. Tuy nhiên, quá trình xử lý gặp không ít khó khăn do các đối tượng vi phạm thiếu thiện chí hợp tác.
“Họ thường lập luận rằng nội dung sách chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng thể trang web, vốn bao gồm nhiều dịch vụ khác như ôn tập, luyện thi hoặc kinh doanh trực tuyến. Khi bị phát hiện, các nội dung vi phạm có thể bị gỡ bỏ nhanh chóng, gây khó khăn cho việc xác định mức độ vi phạm và áp dụng chế tài tương xứng”, ông Thái nói.
Thực tế cũng cho thấy, khi phát hiện vi phạm và yêu cầu phối hợp xử lý, nhiều đối tượng đã sử dụng các biện pháp trì hoãn. Họ thừa nhận hành vi, thậm chí đề nghị hợp tác chia sẻ doanh thu, nhưng kéo dài quá trình đàm phán trong thời gian dài. Đến khi đạt được thỏa thuận, nội dung vi phạm đã bị khai thác gần như trọn vẹn. Điều này một lần nữa cho thấy, việc định lượng rõ ràng hành vi vi phạm và thiết lập cơ chế xử lý kịp thời là yêu cầu mang tính cấp thiết.
Về những điểm mới trong Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam sửa đổi có hiệu lực từ ngày 1/4/2026, ông Nguyễn Xuân Minh, Giám đốc Kế hoạch-Sản xuất Công ty cổ phần Văn hóa Nhã Nam cho rằng, đang có một hướng đi mới được mở ra. Đó là cơ chế phát hiện thì chặn ngay, sau đó mới xử lý tiếp. Hướng tiếp cận này vô cùng đúng đắn và mang tính xử lý khẩn cấp, tạm thời. Tuy nhiên, việc thực thi cụ thể như thế nào vẫn còn nhiều điểm cần phải hướng dẫn vì vấn đề này hiện đang tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau.
“Giả sử đơn vị chúng tôi phát hiện hành vi vi phạm, chúng tôi cần biết phải ứng dụng luật đó như thế nào, báo cáo với cơ quan quản lý ra sao để địa chỉ vi phạm bị chặn ngay lập tức. Các vấn đề như: thời gian chặn tạm thời kéo dài bao lâu, quy trình xử lý tiếp theo thế nào, hay cách chứng minh vi phạm ra sao... tất cả đều cần được hiện thực hóa thông qua các thông tư, nghị định và hướng dẫn cụ thể để những đơn vị như chúng tôi biết cách phối hợp thực hiện”, ông Nguyễn Xuân Minh chia sẻ mong muốn.
Bên cạnh đó, các biện pháp răn đe hiện nay chủ yếu tập trung vào các đối tượng làm sách lậu truyền thống khi có bằng chứng, vật chứng rõ ràng, mặc dù việc chứng minh thiệt hại thực tế vẫn rất khó khăn. Song đối với những đối tượng vi phạm bản quyền trên không gian mạng - những người chia sẻ nội dung online miễn phí hoặc để thu tiền quảng cáo - thì các biện pháp răn đe vẫn chưa thực sự rõ ràng. Trong quá trình làm việc, ông Minh cho biết chưa từng ghi nhận trường hợp nào bị xử lý vì hành vi chia sẻ sách lậu trên không gian mạng, trong khi hiện tượng này đang ngày càng gia tăng và diễn biến nghiêm trọng.
“Các biện pháp xử lý cần nhắm đến cả những người chia sẻ vì mục đích ‘vô tư’ lẫn những người không hề vô tư. Có những đối tượng chia sẻ miễn phí nhưng thực chất là để thu lợi nhuận lớn từ quảng cáo… hiện nay vẫn chưa có biện pháp răn đe thỏa đáng đối với những hành vi này”, ông Minh nhấn mạnh.
Hoàn thiện hành lang pháp lý và cơ chế xử lý
Chính từ những “điểm nghẽn” trong thực tiễn, yêu cầu hoàn thiện hành lang pháp lý trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.
Theo Tiến sĩ Phạm Vĩnh Thái, Giám đốc Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, về khung pháp lý, có thể thấy hệ thống quy định, đặc biệt là Luật Xuất bản Việt Nam, đã từng bước tiệm cận với các chuẩn mực quốc tế. Tuy nhiên, để nâng cao hiệu quả thực thi và bảo đảm tính răn đe, yếu tố then chốt vẫn nằm ở cơ chế phối hợp giữa các lực lượng chức năng, nhất là trong xử lý các hành vi vi phạm trên môi trường trung gian.
Từ thực tiễn đó, yêu cầu đặt ra là cần sớm hoàn thiện các văn bản hướng dẫn dưới luật theo hướng định lượng rõ ràng hành vi vi phạm. Đây sẽ là cơ sở quan trọng để các nhà xuất bản và cơ quan chức năng có thể xác định mức độ thiệt hại, từ đó áp dụng các biện pháp xử lý hiệu quả hơn. Mặc dù hiện nay sự phối hợp giữa các bộ, ngành như Bộ Công an, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã có nhiều chuyển biến tích cực, song vẫn cần một quy trình cụ thể, thống nhất đối với việc xử lý vi phạm trên không gian mạng.
Để nâng cao hiệu quả thực thi và bảo đảm tính răn đe, yếu tố then chốt vẫn nằm ở cơ chế phối hợp giữa các lực lượng chức năng, nhất là trong xử lý các hành vi vi phạm trên môi trường trung gian.
Tiến sĩ Phạm Vĩnh Thái, Giám đốc Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
Bên cạnh đó, việc nâng cao tính răn đe cũng là yêu cầu cấp thiết. Dù khung xử phạt hiện hành đã tương đối đầy đủ, nhưng số vụ việc bị xử lý triệt để vẫn chưa tương xứng với thực tế. Việc xây dựng các quy trình pháp lý rõ ràng, phù hợp với đặc thù môi trường số sẽ là giải pháp quan trọng nhằm hạn chế tình trạng vi phạm trong thời gian tới.
Ông Đinh Tiến Dũng, Phó Cục trưởng Cục Xuất bản, In và phát hành, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chia sẻ từ góc độ nhà quản lý rằng quy định của Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam sửa đổi đã có bước phát triển, tiệm cận thực tế và kế thừa các nội dung của Luật An ninh mạng Việt Nam, góp phần bảo đảm tính liên thông giữa các quy định pháp luật.
Mặc dù quy định đã có như vậy, nhưng trong thực tiễn quản lý, ông Dũng thấy cần thiết phải làm rõ quy trình xử lý, thời hạn và cơ chế phối hợp liên ngành trong xử lý. Ví dụ như với IP thì hiện nay Trung tâm Internet xử lý trong bao nhiêu phút; việc liên thông bằng phần mềm giữa Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch với Bộ Khoa học và Công nghệ hay Bộ Công an để chặn, lọc nội dung vi phạm thì mất bao nhiêu thời gian. Tất cả những điều đó cần được cụ thể hóa bằng các chỉ số định lượng và thẩm quyền rõ ràng để triển khai.
Bởi vì nếu chỉ quy định trong luật mà mang tính khái quát, chưa đi vào thực tế thì rất khó thực hiện. Hiện nay, xử lý hành chính vẫn chủ yếu thông qua văn bản, phải có quy trình ký duyệt, đóng dấu mới triển khai được. Trong khi đó, việc chặn một website không phải muốn là có thể chặn ngay, mà còn liên quan đến quyền tiếp cận thông tin. Bộ Công an muốn chặn cũng phải có căn cứ từ các bộ, ngành khác, phải đánh giá nội dung có thuộc thẩm quyền hay không. Do đó, việc phân công, phối hợp giữa các bộ, ngành khi chặn, lọc nội dung cần có cơ chế liên ngành rõ ràng để xử lý tình huống.
Ông Dũng dẫn chứng, dù cơ chế cũng đã có, nhưng vẫn mang tính hành chính. Thí dụ, khi phát hiện vi phạm, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phải có văn bản gửi sang Bộ Công an; sau đó Bộ Công an phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ, rồi chuyển đến Trung tâm Internet hoặc Cục Viễn thông để tiến hành chặn IP hoặc tên miền; tiếp đó lại phải qua các nhà mạng cung cấp dịch vụ ISP thì họ mới thực hiện chặn. Vì vậy, theo quy trình hành chính, thời gian xử lý vẫn còn tương đối dài.
“Mặc dù đã có nhiều cải thiện, nhưng trong thực tế vẫn còn mất thời gian, trong khi chỉ trong khoảng thời gian đó, một thông tin vi phạm có thể đã tiếp cận đến hàng triệu người. Đây là vấn đề thực tế cho thấy chúng ta cần học hỏi kinh nghiệm quốc tế, thí dụ như cơ chế xử lý khẩn cấp, có thể “bấm nút” để tạm thời ngăn chặn ngay. Tức là có những biện pháp khẩn cấp tạm thời, nếu sau đó xác định không đúng thì có thể điều chỉnh lại. Chúng ta cần có cơ chế linh hoạt hơn. Chúng tôi rất mong sẽ có nghị định hoặc thông tư hướng dẫn cụ thể để triển khai hiệu quả hơn”, ông Dũng nói.
Chúng ta cần học hỏi kinh nghiệm quốc tế, thí dụ như cơ chế xử lý khẩn cấp, có thể “bấm nút” để tạm thời ngăn chặn ngay thông tin vi phạm trên mạng. Tức là có những biện pháp khẩn cấp tạm thời, nếu sau đó xác định không đúng thì có thể điều chỉnh lại. Chúng ta cần có cơ chế linh hoạt hơn.
Ông Đinh Tiến Dũng, Phó Cục trưởng Cục Xuất bản, In và phát hành
Hiện nay, dù pháp luật đã quy định mức xử phạt nghiêm, thậm chí theo Bộ luật Hình sự có thể phạt tới 3 tỷ đồng hoặc phạt tù. Tuy nhiên, việc áp dụng biện pháp hình sự trong thực tế còn tương đối ít. Số vụ việc bị xử lý hình sự trong lĩnh vực này còn hạn chế, do quá trình điều tra, truy tố, xét xử gặp nhiều khó khăn như đã nêu. Chính vì vậy, dù có quy định răn đe, nhưng do việc xử lý còn kéo dài, nhiều đối tượng vẫn có tâm lý “làm trước, tính sau”.
“Có thể nói, hệ thống pháp luật hiện hành đã khá đầy đủ. Luật An ninh mạng cho phép truy vết đến từng đối tượng, Luật Sở hữu trí tuệ đã được sửa đổi nhiều lần và bổ sung các biện pháp như chặn, lọc, tạm ẩn nội dung vi phạm. Các cơ quan quản lý cũng đã làm việc với các nền tảng quốc tế và nhận được cam kết hợp tác.
Tuy nhiên, trong thực tế, việc thực hiện của các nền tảng này chưa đầy đủ. Có trường hợp chúng ta yêu cầu xử lý 10 nội dung nhưng họ chỉ xử lý một phần, với nhiều lý do khác nhau. Đây vẫn là yếu tố phụ thuộc từ phía đối tác, trong khi về mặt pháp luật, chúng ta đã tương đối hoàn thiện. Nhìn vào thực tế hiện nay, có thể thấy tình trạng vi phạm bản quyền vẫn kéo dài và ngày càng phức tạp”, ông Dũng quan ngại.
Ông Dũng cho biết, trong thời gian tới, việc sửa đổi Luật Xuất bản Việt Nam sẽ hướng tới các nội dung cốt lõi như chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm, tăng cường ứng dụng công nghệ và kiện toàn nguồn nhân lực. Đây được kỳ vọng là bước đi quan trọng nhằm hoàn thiện hành lang pháp lý và nâng cao hiệu quả bảo vệ bản quyền trong lĩnh vực xuất bản.
Những khoảng trống trong hướng dẫn thi hành, sự chậm trễ trong phối hợp liên ngành, cũng như hạn chế trong cơ chế xử lý nhanh đang là những “nút thắt” cần sớm được tháo gỡ trong bài toán bảo vệ bản quyền trong lĩnh vực xuất bản hiện nay.
Các diễn giả tọa đàm đều cho rằng, trong bối cảnh chuyển đổi số, nếu không kịp thời hoàn thiện hành lang pháp lý và nâng cao hiệu quả thực thi, các hành vi vi phạm sẽ tiếp tục gia tăng cả về quy mô lẫn mức độ tinh vi. Ngược lại, một hệ thống pháp luật đồng bộ, minh bạch và linh hoạt không chỉ bảo vệ quyền lợi của tác giả và nhà xuất bản, mà còn góp phần xây dựng môi trường sáng tạo lành mạnh, nâng cao uy tín quốc gia trong hội nhập quốc tế.