Chuyển dịch tư duy về sở hữu trí tuệ

Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam (Nghị quyết 80) đặt mục tiêu công nghiệp văn hóa đóng góp 7% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) vào năm 2030 và trở thành trụ cột kinh tế với 9% GDP vào năm 2045.

Khi Luật Sở hữu trí tuệ và quyền hình ảnh của người sáng tạo được thực thi đầy đủ, các tác giả làm việc trong nhiều lĩnh vực nghệ thuật mới ở Việt Nam sẽ tích cực chủ động tham gia đăng ký bản quyền tác giả hơn nữa. (Trong ảnh: Vở múa đương đại Nón của biên đạo Vũ Ngọc Khải. Ảnh Đại Ngô)
Khi Luật Sở hữu trí tuệ và quyền hình ảnh của người sáng tạo được thực thi đầy đủ, các tác giả làm việc trong nhiều lĩnh vực nghệ thuật mới ở Việt Nam sẽ tích cực chủ động tham gia đăng ký bản quyền tác giả hơn nữa. (Trong ảnh: Vở múa đương đại Nón của biên đạo Vũ Ngọc Khải. Ảnh Đại Ngô)

Để bảo đảm được mục tiêu chiến lược đó, yêu cầu phải thay đổi căn bản tư duy về tài sản trí tuệ trong cộng đồng sáng tạo cần được ưu tiên.

Di sản của một thế hệ “phòng thủ”

Gần hai thập kỷ kể từ khi Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 có hiệu lực, phần lớn cộng đồng sáng tạo Việt Nam, từ nhạc sĩ, ca sĩ, biên đạo cho đến các đơn vị tổ chức biểu diễn, đã quen tiếp cận quyền tác giả và quyền liên quan dưới một lăng kính duy nhất. Đó là quyền cần được bảo vệ khỏi bị xâm phạm.

Cách tiếp cận đó, nhìn bề ngoài tưởng như cẩn trọng, kỳ thực lại là một dạng bị động đã ăn sâu vào nếp nghĩ, rằng người sáng tạo chỉ thật sự nghĩ tới quyền của mình khi đã có hành vi xâm phạm xảy ra, khi bản ghi bị tải lên các nền tảng mà không qua thỏa thuận, khi bản phối được dùng làm nhạc nền cho hàng triệu video ngắn không ghi nguồn, khi buổi diễn bị livestream lén ngay trong đêm khai mạc. Phản ứng phổ biến vẫn dừng ở một dòng trạng thái phẫn nộ trên mạng xã hội, hiếm khi đi tới một quy trình thực thi quyền có chuẩn bị, dù pháp luật Việt Nam đã trao cho chủ thể quyền nhiều công cụ đáng kể, từ biện pháp dân sự, hành chính cho đến hình sự, đối với hành vi xâm phạm ở quy mô lớn về mặt thương mại.

Hệ quả của cách tiếp cận phòng thủ đó nặng nề hơn rất nhiều so với những gì người trong cuộc thường thừa nhận. Khi tác phẩm chỉ được nhìn như một thứ có nguy cơ bị mất, nó không bao giờ được định giá đúng nghĩa, không được ghi nhận như một tài sản có thể chuyển nhượng, góp vốn, bảo đảm tín dụng hoặc đưa vào di sản thừa kế theo đúng cấu trúc tài sản.

Một bài hát thông thường, ngay khi được phát hành ra công chúng, chứa đựng ít nhất ba loại quyền pháp lý độc lập dành cho các chủ thể khác nhau: Quyền tác giả đối với phần nhạc và phần lời, quyền của nhà sản xuất bản ghi, và quyền của người biểu diễn. Mỗi loại quyền lại có thể được phân tách tiếp, theo phương thức khai thác, gồm quyền sao chép, quyền truyền đạt tới công chúng, quyền biểu diễn trước công chúng, quyền cho thuê bản gốc hoặc bản sao, quyền làm đồng bộ hóa, quyền in ấn, quyền làm tác phẩm phái sinh.

Không nắm được cấu trúc nhiều tầng ấy, chủ thể quyền dễ rơi vào hai cực, và đều bất lợi: Hoặc ký một hợp đồng “bán đứt” mơ hồ khiến mình mất quyền kiểm soát chính tác phẩm gắn với tên tuổi mình, hoặc bỏ ngỏ quyền cho thị trường tự do khai thác mà không có cơ chế thu phí.

Thế hệ “kiến tạo” đã hình thành

Một sự dịch chuyển âm thầm đã bắt đầu; đây là chuyển động đáng kể nhất của giới sáng tạo Việt Nam trong thập niên vừa qua. Không còn là “làm sao để bảo vệ tác phẩm khỏi bị mất”, câu hỏi cốt lõi mà các nghệ sĩ thế hệ mới đặt ra đã chuyển sang nội dung rộng hơn rất nhiều: Làm sao để tác phẩm này sinh ra giá trị một cách bền vững và hợp pháp ở Việt Nam cũng như trên các thị trường ngoài lãnh thổ Việt Nam.

Sự chuyển dịch được thể hiện thông qua những hành vi cụ thể có thể quan sát được. Theo Cục Bản quyền tác giả (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch), ngày càng nhiều tác giả chủ động đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan. Cũng cần nhấn mạnh rằng, theo quy định của pháp luật, quyền tác giả và quyền liên quan quyền tác giả phát sinh tự động kể từ thời điểm tác phẩm được định hình dưới một hình thức vật chất nhất định, không phụ thuộc vào việc đăng ký hay công bố. Tuy nhiên, Giấy chứng nhận đăng ký do Cục Bản quyền tác giả cấp lại có giá trị chứng cứ đặc biệt khi xảy ra tranh chấp, vì khi một bên sở hữu Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả thì nghĩa vụ chứng minh trong một vụ tranh chấp được dịch chuyển sang phía bên kia. Việc nhiều nghệ sĩ, nhà sáng tạo đã chủ động đi đăng ký trước khi đưa sản phẩm ra công chúng, vì vậy, không phải hành vi mang tính thủ tục, mà là một bước đi pháp lý có tính toán, thiết lập một mốc thời gian không thể tranh cãi làm điểm tựa cho mọi giao dịch về sau.

Bên cạnh đó, các hợp đồng cấp quyền (licensing) dần được đàm phán có cấu trúc nhiều tầng. Thí dụ như trong lĩnh vực âm nhạc, thay vì chuyển nhượng toàn bộ quyền tài sản như trong các hợp đồng ở thế hệ trước, các nghệ sĩ trẻ và đội ngũ của họ bắt đầu vận dụng cơ chế chuyển quyền sử dụng có điều kiện, phân tách quyền theo lãnh thổ, theo kênh phân phối, theo thời hạn, theo mục đích sử dụng, có hoặc không có tính độc quyền.

Một bản ghi có thể được cấp phép độc quyền cho một nền tảng streaming trong nước, đồng thời được cấp phép không độc quyền cho các nền tảng ngắn dạng UGC (viết tắt từ User Generated Content/nội dung độc quyền do khách hàng tạo ra, có liên quan thương hiệu và phát trên đa dạng nền tảng) ở thị trường khu vực, trong khi quyền đồng bộ hóa với hình ảnh trong quảng cáo và điện ảnh được giữ lại để đàm phán riêng. Cấu trúc ấy cho phép tối đa hóa dòng tiền mà vẫn bảo toàn quyền kiểm soát của chủ sở hữu tác phẩm.

Điều đáng chú ý, một bộ phận nghệ sĩ bắt đầu nhìn nhận quyền liên quan hình tượng cá nhân của mình, gồm quyền nhân thân của người biểu diễn theo quy định tại Luật Sở hữu trí tuệ và các quyền hình ảnh được điều chỉnh bởi Bộ luật Dân sự, như một thương hiệu có thể nhượng quyền có điều kiện. Ngôn ngữ thị giác sân khấu, cách phối khí đặc trưng, thậm chí những chi tiết tạo hình mang tính nhận diện đều được thiết kế có chủ đích để có thể chuyển hóa thành các sản phẩm phái sinh, các thỏa thuận hợp tác thương hiệu, các dự án hợp tác với điện ảnh, thời trang và du lịch văn hóa.

Theo dòng dịch chuyển của tư duy về sở hữu trí tuệ trong công nghiệp văn hóa hiện nay, một yêu cầu mới đồng thời cần được đặt ra: Chủ thể sáng tạo từ nay phải đồng thời là chủ thể kinh tế, hiểu cấu trúc quyền của mình, biết định giá nó, biết đàm phán về nó, biết khi nào tự khai thác và khi nào ủy thác qua tổ chức quản lý tập thể. Nhà nước, theo tinh thần Nghị quyết 80, đóng vai trò kiến tạo bằng cách hoàn thiện thể chế và xây dựng hạ tầng số dùng chung. Nhưng kiến tạo dù tốt đến đâu cũng chỉ là điều kiện cần. Điều kiện đủ vẫn nằm ở chỗ người sáng tạo có chủ động bước vào không gian mới này hay không.

Hành trình cần tiếp tục

Sẽ là quá lạc quan nếu cho rằng cuộc dịch chuyển tư duy này đã hoàn tất. Nhận thức về quyền tác giả và quyền liên quan trong cộng đồng sáng tạo Việt Nam vẫn còn chênh lệch rất lớn giữa các thế hệ, giữa các loại hình nghệ thuật, giữa các trung tâm đô thị và những địa phương nơi nhiều giá trị văn hóa đặc sắc đang chờ được khai mở đúng cách.

Không gian số vừa mở ra cơ hội khai thác chưa từng có trong lịch sử, vừa đặt người sáng tạo trước những thách thức pháp lý phức tạp đến mức ngay cả các quốc gia có nền công nghiệp văn hóa lâu đời cũng còn loay hoay tìm lời giải. Và bây giờ, làn sóng trí tuệ nhân tạo tạo sinh đang đặt lại từ gốc rễ những câu hỏi tưởng đã có lời đáp về tư cách tác giả, về phạm vi của ngoại lệ quyền tác giả khi tác phẩm bị đưa vào dữ liệu huấn luyện, về cơ chế phân chia lợi ích trong chuỗi giá trị mà chính người sáng tạo gốc không hề tham gia.

Sự chuyển dịch tư duy về sở hữu trí tuệ không thể, và không nên, là việc của riêng cộng đồng sáng tạo. Nó đòi hỏi sự đồng hành thực chất của cơ quan quản lý nhà nước trong việc cập nhật pháp luật và nâng cao năng lực thực thi, của doanh nghiệp công nghiệp văn hóa trong việc xây dựng các mô hình kinh doanh tôn trọng quyền tác giả, của các nền tảng số trong việc minh bạch hóa cơ chế phân chia lợi ích; và của chính công chúng thụ hưởng trong việc nhìn nhận lại thói quen tiêu dùng văn hóa của mình. Mỗi mắt xích trong hệ sinh thái ấy đều cần thay đổi cách nhìn về giá trị của một tác phẩm. Bởi chỉ khi mọi mắt xích cùng dịch chuyển, mục tiêu chiến lược mà Nghị quyết 80 đã đặt ra mới có thể trở thành hiện thực, tài sản trí tuệ của người Việt Nam thật sự trở thành tài sản. Khi đó, Việt Nam thật sự bước vào quỹ đạo của một quốc gia có sức mạnh mềm văn hóa xứng tầm ■

Khi một thế hệ sáng tạo đặt câu hỏi khác về tài sản của mình, đồng thời các tổ chức quản lý quyền tác giả nâng cấp năng lực vận hành, các công ty quản lý nghệ sĩ chuyên nghiệp xuất hiện, các nền tảng phân phối nội dung số trong nước trưởng thành…, điều này không có nghĩa chỉ là sự lớn lên của một nhóm cá nhân xuất sắc. Nó là tín hiệu cho thấy cả một hệ sinh thái sáng tạo đang dần định hình theo những chuẩn mực mà các nền công nghiệp văn hóa thành công trên thế giới đã đi qua.