Hạnh phúc là họa sĩ

"Hoa cúc kim" tranh bột màu của Vũ Giáng Hương
"Hoa cúc kim" tranh bột màu của Vũ Giáng Hương

Sinh trưởng trong một gia đình văn nghệ với người cha là nhà văn Vũ Ngọc Phan và mẹ là nhà thơ Hằng Phương, bà được hấp thụ vốn văn hóa phong phú của gia đình, nhất là vốn văn hóa ấy được thử lửa trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.

Nếu như sự nghiệp của người cha lẫy lừng với bộ sách Nhà văn hiện đại cho văn học tiền chiến, thì sự nghiệp của cô con gái dần nảy nở trong  chín năm kháng chiến ở Việt Bắc, được học và tiếp xúc với các bậc thầy Nguyễn Sĩ Ngọc, Tô Ngọc Vân, Trần Văn Cẩn, Nguyễn Tiến Chung...

Học xong khóa Mỹ thuật Tô Ngọc Vân 1955 - 1956, bà tiếp tục học khóa I Trường cao đẳng Mỹ thuật, rồi trở thành giảng viên của Trường cao đẳng Mỹ thuật Việt Nam (sau đổi thành Trường đại học Mỹ thuật Hà Nội).

Thời gian đi thực tế ở nhiều vùng nông thôn, các khu công nghiệp, đặc biệt năm 1971 bà đi Trường Sơn phục vụ kháng chiến trong tiểu đoàn 39 công binh và  tiểu đoàn xe 52, thuộc đoàn 559, đã lắng đọng trong tâm hồn họa sĩ những sự kiện, những con người, những hình ảnh không thể nào quên, đầy tình người và máu lửa. Song tất cả đã được vẽ lại với một cái nhìn điềm đạm, trong sáng, dường như những gian khó của đời sống kinh tế, những hiểm nguy của bom đạn luôn chìm đi, ẩn giấu trong cảnh đẹp thơ mộng...

Những ký họa thuốc nước và mực nho cho thấy lối nắm bắt sự vật nhanh, đơn giản hóa, lại có khả năng đẩy sâu nếu cần. Từ những bà cụ nón thúng, chít khăn mỏ quạ, yếm sồi, váy chùng, những lão nông rắn rỏi, những chiến sĩ du kích bồng súng đứng gác hoặc trên đường hành quân sinh động... cho đến những phong cảnh lúc được bao quát đến từng chi tiết, lúc buông vài nét mà vẫn nên thơ.

Ðồ họa in khắc gỗ của họa sĩ có thể được chuyển thể từ các ký họa và thậm chí được chuyển thành những chất liệu khác nhau, như bức Cầu Hàm Rồng năm 1970.

Bà yêu thích cả tranh khắc gỗ đen trắng, lẫn khắc gỗ dân gian Ðông Hồ. Nếu như bức Chùa Thầy năm 1957, diễn tả một ngày đông bình đạm, cầu ngói nép bên cây gạo, lác đác vài người nông dân đi lại, thì bức Chuyến phà đêm năm 1965 là cảnh du kích tải gạo và bộ đội khẩn trương chuyển pháo qua sông, ánh trăng sáng lấp lánh dòng sông, còn người và thuyền chỉ hiện lên bằng các bóng đen.

Phần lớn những tranh sơn dầu được sáng tác từ những năm 90 (của thế kỷ trước) trở lại đây, cho thấy họa sĩ trước kia có ít thời gian, ngay cả cách vẽ cũng chưa thật dụng công. Ta có cảm giác các bức họa đều được vẽ nhanh, hoặc trực tiếp từ thực tế hoặc chuyển thể từ ký họa ít sửa đổi, không quá cầu kỳ nhào nặn một hình thể.

Có lẽ sở trường và thành công nhất trong sáng tác của Vũ Giáng Hương là tranh lụa, một chất liệu gắn bó với họa sĩ tới năm mươi năm qua. Bà có thể vẽ rất kỹ, dài hơi và chỉn chu mọi chi tiết như bức Hợp tác xã đánh cá năm 1960, có thể vẽ thoáng hoạt đơn giản, dường như không cần phác thảo, can hình, như nhiều bức phong cảnh tĩnh vật, thậm chí cả chân dung. Tranh lụa cho thấy hòa sắc đặc trưng của họa sĩ, ưa các sắc trung gian, vàng nhạt, xanh nhạt, nâu nhạt, rất ít đối chọi. Vàng - xanh -lơ nhạt, tím - nâu - vàng- xám, hồng - vàng - trắng là những cặp hòa sắc thường dùng tạo ra một sắc thái tình cảm rất nhẹ nhàng thanh thản, dù là đề tài của những bức tranh không phải lúc nào cũng như thế, đặc biệt vẽ về chiến tranh.

Không gian tranh có xu hướng chuyển từ ba chiều về hai chiều, con người luôn xen lẫn cỏ cây hoa lá, sinh hoạt luôn ở trong cảnh đẹp như biển sương sớm, rừng âm u, suối đổ thông reo, vườn hoa... xua tan cảm giác mệt nhọc, gian khó của bước đường hành quân và lao động thời chiến. Họa sĩ có những vận hội tốt để không đặt vấn đề gì căng thẳng cả, đó là quan niệm thẩm mỹ và nghệ thuật như vườn hoa mơ mộng để con người thưởng ngoạn và trìu mến với tất cả.

Họa sĩ chú ý đến nhiều mặt của cuộc sống, từ gần đến xa, từ những gì chung quanh mình ra thế giới bên ngoài. Bà vẽ cha, mẹ, anh, chị, em mình thành những chân dung trang trọng, trước tiên khái quát một nét đặc trưng của nhân vật, để ai cũng nhận ra họ, sau đó là cái nhìn vào nội tâm như họa sĩ suy tưởng.

Ðặc biệt, bà dành sự ưu ái cho trẻ thơ, vẽ chúng ở mọi nơi, mọi lúc, bé bên mẹ, bé cõng em và bé ngồi một mình, những cô gái sắp lớn tuổi trăng tròn với tương lai và số phận nào đó phía trước. Qua mỗi bức họa ấy, họa sĩ như tìm lại câu chuyện của chính mình, một nữ họa sĩ trưởng thành từ chiến tranh, nhưng nhiều may mắn mà ai cũng biết, và nhiều đau khổ mà không ai biết ở tuổi 75, bà vẫn đảm nhiệm trọng trách trong Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam và vẫn vẽ tranh... Và hạnh phúc là họa sĩ luôn ưu ái với cuộc sống.

Có thể bạn quan tâm