Tư duy “lấy người dùng làm trung tâm” được coi là mục tiêu trọng yếu của kiểm soát, quản lý thủ tục thay vì chỉ dừng ở việc “số hóa quy trình”.
Cải cách đúng định hướng nhưng chậm về kết quả
Theo số liệu của Bộ Tư pháp, trong giai đoạn 2007-2010, Bộ đã công bố công khai Cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính tại các cấp chính quyền; đơn giản hóa gần 5.000 thủ tục, tiết kiệm gần 30.000 tỷ đồng/năm. Cắt giảm, đơn giản hóa khoảng 3.000 thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh, kiểm tra chuyên ngành, chế độ báo cáo của doanh nghiệp tại 262 văn bản quy phạm pháp luật; đến hết tháng 1/2026 đã cắt giảm, đơn giản hóa gần 2.700 thủ tục hành chính (đạt 87,2%); cắt giảm gần 2.000 điều kiện kinh doanh (đạt 83,2%)…
Mặc dù công tác cải cách thủ tục hành chính thời gian qua đạt nhiều kết quả tích cực, song theo một số đánh giá, cách tiếp cận vẫn còn thiên về rà soát từng quy trình/danh mục thủ tục hơn là tái thiết kế phương thức và năng lực vận hành; thiên về cắt giảm trên giấy tờ hơn là giảm chi phí giao dịch thực tế.
Thứ trưởng Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh cho rằng, điểm nghẽn mang tính hệ thống chính là độ trễ lớn trong việc ban hành chủ trương, phương án đơn giản hóa thủ tục hành chính, sửa đổi, hoàn thiện các quy định pháp luật dẫn đến tình trạng cải cách đúng về định hướng nhưng chậm về kết quả. Bên cạnh đó, việc mở rộng phân cấp, phân quyền chưa đi kèm cơ chế kiểm soát đủ mạnh đối với thủ tục hành chính do địa phương ban hành, dẫn đến tình trạng cùng một thủ tục, mỗi địa phương lại quy định khác nhau.
Nhận diện khó khăn, vướng mắc ở góc độ người dân, doanh nghiệp, bà Phạm Thị Ngọc Thủy, Giám đốc Văn phòng Ban nghiên cứu phát triển kinh tế tư nhân (Ban IV), Hội đồng tư vấn cải cách thủ tục hành chính của Thủ tướng Chính phủ thẳng thắn chỉ ra bốn nguy cơ hiện hữu mang tính hệ thống, có thể khiến nỗ lực cải cách thủ tục hành chính thời gian bị “phá vỡ”, đó là: Thể chế lệch pha, nhân sự quá tải, dữ liệu phân tán, tài chính cứng nhắc.
Theo bà Thủy, thể chế đang có lệch pha nhất định giữa chủ trương với triển khai, giữa mong muốn với thực thi, giữa nỗ lực từng bên với gắn kết liên thông nhau và nếu không có độ khớp nối sẽ không tạo ra hiệu quả như ý. Thí dụ trong lĩnh vực an toàn thực phẩm, Nghị định số 15/2018/NĐ-CP quản lý an toàn thực phẩm theo hướng quản trị rủi ro, đề cao trách nhiệm tự tuân thủ của doanh nghiệp; đến Nghị định số 46/2026/NĐ-CP lại chuyển mạnh sang tiền kiểm, dẫn đến điểm nghẽn trong thực thi. Yêu cầu quản lý tăng trong khi năng lực tổ chức chưa theo kịp khiến mọi việc ùn ứ.
Về vấn đề tài chính, tại các xã, phường, số lượng hồ sơ giải quyết là khác nhau nhưng số biên chế giống nhau, tài chính phân bổ “bó cứng” theo định biên mà không theo số lượng công việc. “Tại Bắc Ninh tự nhiên trong quy hoạch có sân bay, mật độ làm thủ tục hành chính liên quan đất đai “nóng” khủng khiếp trong khi cũng chỉ có từng ấy người làm; còn ở các xã miền núi cả sáng chỉ có mấy bộ hồ sơ”, bà Thủy cho biết. Công việc nhiều dẫn đến áp lực quá tải cho cán bộ cấp xã, phường. Ngay tại xã Mỹ Thọ (Đồng Tháp), một cán bộ địa chính xã vừa phải giải quyết nhiệm vụ chuyên môn, vừa xử lý hồ sơ thủ tục hành chính cho dân, vừa cần có mặt trong các lịch đo đạc hiện trạng của Văn phòng đăng ký đất đai, tham gia các vụ xử án liên quan đất đai khi Tòa án/Viện Kiểm sát mời…
Trong khi đó số hóa phân mảnh, dữ liệu chưa liên thông thực chất, hạ tầng kỹ thuật chưa bảo đảm hồ sơ có dung lượng lớn. Sau khi hệ thống giải quyết thủ tục hành chính chuyển đổi sang mô hình tập trung cấp bộ, dừng tiếp nhận trên các hệ thống địa phương, bản thân địa phương thấy chưa thuận tiện. Ông Nguyễn Ngọc Nam, Giám đốc Trung tâm Phục vụ hành chính công tỉnh Bắc Ninh chia sẻ: “Bình thường địa phương thực hiện theo quy trình cũ thì chỉ cần vào nắm được số liệu ngay. Giờ có 8 cơ quan cấp bộ triển khai, chúng tôi phải xin số liệu của 8 sở nhưng cũng chưa có. Số hồ sơ phát sinh ngành dọc chưa đến 10% so với các địa phương, trong khi số lượng thủ tục hành chính ngang nhau, hơn 1.000 thủ tục”.
Dữ liệu phát sinh phải tự động cập nhật, liên thông
Một trong những giải pháp mà Ban IV Hội đồng tư vấn cải cách thủ tục hành chính của Thủ tướng đưa ra là đột phá về phương thức tổ chức thực thi, Nhà nước cần xem xét chuyển sang mô hình tập trung vào xây dựng chính sách, ban hành chuẩn mực và kiểm soát kết quả; đồng thời ủy quyền, thuê ngoài có kiểm soát đối với các khâu kỹ thuật, vận hành. Giải pháp này nhằm mở rộng năng lực cung ứng dịch vụ hành chính, phù hợp yêu cầu không gia tăng biên chế nhưng nâng cao hiệu quả quản trị công. Kiểm soát theo “hành trình thủ tục”, chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm theo dữ liệu, hoàn thiện hạ tầng dữ liệu dùng chung và địa vị pháp lý của dữ liệu số.
Đồng tình quan điểm này, Thứ trưởng Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh cũng cho rằng, cần phải đổi mới mạnh mẽ về tư duy quản lý thủ tục hành chính theo hướng bảo vệ quyền, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm. Đã đến lúc phải tổng rà soát các thủ tục hành chính và đánh giá rủi ro theo khía cạnh. Bộ Tư pháp sẽ nghiên cứu và tham mưu báo cáo Chính phủ để có hệ tiêu chí rất khoa học dựa trên đánh giá rủi ro lợi ích trong quản lý nhà nước nhằm xác định thủ tục nào giữ, thủ tục nào chỉ cần hậu kiểm.
Theo Phó Chánh Văn phòng Bộ Khoa học và Công nghệ Đỗ Đình Rô, đẩy mạnh ứng dụng chuyển đổi số vào quy trình thủ tục hành chính là cần thiết nhưng phải thực chất, hiệu quả. “Cần bảo đảm khi cán bộ thực hiện thủ tục hành chính xong, cùng lúc đó dữ liệu phát sinh tự động cập nhật, liên thông; như vậy giá trị dữ liệu mới đúng, đủ, sạch, online, không có thời gian chết”, ông Rô nêu rõ.
Việc tập trung vào các giải pháp đột phá về tổ chức thực thi, cơ chế ủy quyền có kiểm soát, chuẩn hóa quy trình và đo lường hiệu quả sẽ tạo nền tảng để công tác kiểm soát thủ tục hành chính đi vào thực chất, góp phần nâng cao hiệu quả quản trị công và năng lực cạnh tranh quốc gia.