Đánh thức lòng hồ

Đồng Nai có hàng trăm công trình thủy lợi lớn, vừa và nhỏ phục vụ tưới tiêu cho sản xuất nông nghiệp và cung cấp nước sinh hoạt; hàng chục công trình thủy điện lớn nhỏ với hàng nghìn km 2 diện tích mặt nước.

Các hộ dân nuôi cá lồng bè trên lòng hồ thủy điện Cần Đơn, xã Đa Kia, tỉnh Đồng Nai.
Các hộ dân nuôi cá lồng bè trên lòng hồ thủy điện Cần Đơn, xã Đa Kia, tỉnh Đồng Nai.

Đây là tiềm năng mặt nước phù hợp cho bảo tồn và phát triển nguồn lợi thủy sản tự nhiên cũng như nuôi thủy sản trong lồng bè và nuôi thủy sản trong hồ chứa gắn với phát triển du lịch sinh thái.

Tiềm năng lòng hồ

Nằm trên lòng hồ thủy điện Cần Đơn, xã Đa Kia từng được biết đến là nơi sinh sống của những hộ dân hồi hương từ Campuchia, mưu sinh chủ yếu bằng đánh bắt cá tự nhiên.

Những phương thức khai thác tận diệt như: kích điện, vó, đáy, thuốc nổ từng khiến nguồn lợi thủy sản cạn kiệt, đời sống người dân bấp bênh.

Nhưng vài năm trở lại đây, diện mạo làng bè đã đổi khác. Những con đường đất lầy lội ngày nào được bê-tông hóa, nhà bè tạm bợ dần nhường chỗ cho những ngôi nhà kiên cố.

Quan trọng hơn, tư duy sản xuất của người dân đã thay đổi. Từ “ăn đong” dựa hoàn toàn vào tự nhiên, họ chuyển sang nuôi cá lồng bè theo hướng thuận thiên, bảo vệ nguồn lợi lâu dài.

Làng bè Phước Minh thuộc xã Đa Kia hiện có hơn 100 hộ nuôi cá lồng bè, trong đó ngày càng nhiều hộ mạnh dạn chuyển sang các loài cá đặc sản giá trị cao, từng bước hình thành vùng nuôi thủy sản tập trung.

Ông Lê Văn Lũy, một trong những hộ tiên phong chuyển đổi, cho biết việc nuôi cá lăng, loài cá đặc sản nước ngọt đã mang lại nguồn thu ổn định. Với hơn 10 lồng bè, mỗi vụ ông thu lãi hàng trăm triệu đồng.

Cá lăng nuôi trong dòng nước lưu thông của lòng hồ có chất lượng thịt thơm ngon, được thị trường ưa chuộng với giá bán không dưới 300.000 đồng/kg.

Không dừng lại ở nuôi trồng, người dân làng bè còn biết chế biến thành những sản phẩm đặc trưng nhằm nâng cao giá trị của cá nước ngọc. Cá khô, chả cá từ các loài cá lăng, cá lóc, cá chình... được làm theo phương thức truyền thống nhưng chất lượng cao, được khách hàng đặt mua trước.

Anh Phạm Văn Sóng, một hộ làm cá khô ở làng bè Bù Tam (xã Đa Kia, tỉnh Đồng Nai), cho biết: “Mỗi năm gia đình tiêu thụ hàng chục tấn cá tươi để làm cá khô. Cá khô có giá từ 300.000-500.000 đồng/kg, riêng cá chình sông có thể lên đến vài triệu đồng/kg”.

Nhờ đó, nghề chế biến thủy sản không chỉ giúp giải quyết đầu ra cho cá nuôi mà còn tạo thêm việc làm cho lao động nhàn rỗi, nhất là phụ nữ và người lớn tuổi.

Lợi thế trên các lòng hồ thủy điện là mặt nước mênh mông, đảo nổi, rừng bán ngập đã mở ra một hướng đi mới, đó là kết hợp nuôi thủy sản với du lịch sinh thái.

Ông Nguyễn Hữu Sướng, một cư dân gắn bó lâu năm với lòng hồ thủy điện Cần Đơn (xã Đa Kia, tỉnh Đồng Nai), đã mạnh dạn đầu tư nhà hàng nổi, phục vụ các món đặc sản đánh bắt và nuôi trồng tại chỗ.

Từ vài món ăn dân dã ban đầu, nay nhà hàng của ông trở thành điểm đến quen thuộc của du khách mỗi dịp cuối tuần, lễ tết. Không chỉ phục vụ ẩm thực, ông Sướng còn tổ chức đưa khách tham quan lòng hồ bằng thuyền, trải nghiệm không gian sông nước và đời sống làng bè.

Mô hình này không chỉ giúp gia đình ông có thu nhập ổn định mà còn tạo đầu ra bền vững cho hơn 20 hộ nuôi cá liên kết.

Cần chính sách đồng hành

Tuy nhiên nhiều năm nay nuôi trồng thủy sản chưa phát triển tương xứng với tiềm năng, đóng góp cho nền kinh tế với tỷ lệ nhỏ và chưa có đối tượng chủ lực nào tham gia mặt hàng xuất khẩu.

Trong giai đoạn 2021-2025, Trung tâm Dịch vụ Nông nghiệp Đồng Nai chỉ triển khai các phần việc, như: thả cá truyền thống; hỗ trợ hoạt động các tổ nghề cá cộng đồng bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản; hỗ trợ ngư cụ khai thác đúng theo quy định để dần thay thế ngư cụ mang tính hủy diệt; phục hồi và tái tạo nguồn lợi thủy sản thông qua thả cá giống vào các hồ chứa lớn.

Bên cạnh đó, đơn vị còn hỗ trợ phát triển nuôi lồng bè cho các hộ khó khăn; tập huấn kiến thức về liên kết chuỗi và nuôi trồng thủy sản; tham quan học tập kinh nghiệm để nắm bắt được kiến thức về tổ chức sản xuất...

Thực tế ở làng bè Phước Minh cho thấy, việc nuôi trồng thủy sản kết hợp phát triển du lịch trên các lòng hồ thủy điện ở tỉnh Đồng Nai được đánh giá là hướng đi giàu tiềm năng, song quá trình triển khai đang gặp không ít khó khăn.

Trước hết, đặc thù lòng hồ thủy điện chịu sự điều tiết mực nước theo vận hành phát điện khiến môi trường nuôi trồng và hoạt động du lịch thiếu ổn định, nhất là vào mùa mưa lũ hoặc cao điểm xả nước, tiềm ẩn rủi ro lớn cho lồng bè, nhà bè và an toàn du khách.

Bên cạnh đó, phần lớn các hộ nuôi cá và làm du lịch còn mang tính tự phát, quy mô nhỏ lẻ, thiếu quy hoạch đồng bộ nên khó tạo ra sản phẩm du lịch đặc trưng, chuyên nghiệp.

Hạ tầng phục vụ du lịch như bến thuyền, giao thông kết nối, điện, nước, xử lý rác thải còn hạn chế, ảnh hưởng đến trải nghiệm của du khách và môi trường sinh thái lòng hồ.

Ngoài ra, người dân chủ yếu quen sản xuất nông nghiệp, thủy sản, thiếu kỹ năng làm du lịch, kiến thức về an toàn, vệ sinh thực phẩm và quảng bá, tiếp thị.

Bên cạnh đó, việc tiếp cận vốn, chính sách hỗ trợ là rào cản khiến mô hình nuôi trồng thủy sản gắn với du lịch trên các lòng hồ thủy điện ở Đồng Nai phát triển chậm và thiếu bền vững.

Do đó, để phát triển hiệu quả mô hình nuôi trồng thủy sản kết hợp du lịch trên các lòng hồ thủy điện ở tỉnh Đồng Nai, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp.

Trước hết, tỉnh cần xây dựng quy hoạch tổng thể, xác định rõ các khu vực nuôi trồng, khu vực khai thác du lịch, bảo đảm hài hòa giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường sinh thái, an toàn hồ đập.

Song song đó, cần đầu tư hoàn thiện hạ tầng thiết yếu như bến thuyền, đường giao thông kết nối, hệ thống điện, nước, thu gom và xử lý rác thải nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch.

Ngành nông nghiệp và du lịch cần tăng cường chuyển giao khoa học-kỹ thuật, hướng dẫn người dân áp dụng quy trình nuôi thủy sản bền vững, an toàn sinh học, đồng thời tập huấn kỹ năng làm du lịch, phục vụ, chế biến và quảng bá sản phẩm.

Việc hình thành các tổ hợp tác, hợp tác xã nuôi trồng thủy sản-du lịch là giải pháp quan trọng nhằm liên kết các hộ dân, tạo sản phẩm đồng bộ, nâng cao sức cạnh tranh.

Ngoài ra, tỉnh cần có cơ chế hỗ trợ vốn, tín dụng ưu đãi, khuyến khích doanh nghiệp tham gia đầu tư, liên kết tiêu thụ sản phẩm, từng bước xây dựng thương hiệu du lịch-thủy sản đặc trưng của các lòng hồ thủy điện Đồng Nai, hướng đến phát triển bền vững và lâu dài.

Có thể bạn quan tâm