Đại hội Đảng lần thứ XIV - "Đại hội bản lề" mở ra kỷ nguyên mới

Nguyên Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Dy Niên

Đại hội Đảng lần thứ XIV - "Đại hội bản lề" mở ra kỷ nguyên mới

Đại hội lần thứ VI của Đảng (năm 1986) đã mở ra "nút thắt" cho đường lối đối ngoại của Việt Nam. 40 năm sau, Đại hội Đảng lần thứ XIV là một "Đại hội bản lề" kỳ vọng sẽ mở ra kỷ nguyên mới đưa Việt Nam "sánh vai cùng các cường quốc năm châu" như ước nguyện của Bác Hồ.

Đó là khẳng định của nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Dy Niên trong cuộc trao đổi với phóng viên Báo Nhân Dân về thành tựu 40 năm đổi mới của Việt Nam.

40 năm Đổi mới - Những bước đi dài và chắc chắn về kinh tế và ngoại giao

image333.jpg
Ngày 14/10/2025, tại trụ sở Liên hợp quốc, bạn bè quốc tế chúc mừng Việt Nam tái đắc cử Hội đồng nhân quyền Liên hợp quôc với số phiếu ủng hộ là 180, cao nhất trong số các ứng cử viên đại diện cho khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Nguồn: Bộ Ngoại giao.

Phóng viên: Có thể nói, Đại hội lần thứ VI của Đảng (năm 1986) đã mở ra "nút thắt" cho đường lối đối ngoại của Việt Nam. Là người trực tiếp tham gia vào các hoạt động đối ngoại đưa Việt Nam từng bước hội nhập quốc tế, ông có thể chia sẻ những dấu mốc quan trọng trong thời kỳ đầu của đối ngoại Việt Nam khi chúng ta tiến hành công cuộc đổi mới?

Ông Nguyễn Dy Niên: Nhìn lại quá trình 40 năm Việt Nam thực hiện đổi mới, chúng ta đã bước những bước rất dài và chắc chắn trên cả lĩnh vực kinh tế và ngoại giao. Đại hội lần thứ VI của Đảng (năm 1986) diễn ra trong bối cảnh kinh tế trong nước khủng hoảng, tình hình xã hội khó khăn, đòi hỏi phải thay đổi. Từ thực tế đó, Đảng ta đã có quyết định sáng suốt là phải tiến hành công cuộc Đổi mới.

Thời điểm đó, tình hình thế giới biến động vô cùng phức tạp ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu gây ra nhiều bất lợi. Trong bối cảnh đó, Việt Nam đã đưa ra những quyết định chính xác, kịp thời, tránh những nguy cơ không có lợi đối với đất nước.

Nhờ những quyết sách đúng đắn của Đảng, chỉ sau 1-2 năm tiến hành công cuộc đổi mới, từ một đất nước "nằm trên kho vựa thóc mà lại đói, nằm trên đống than mà lại rét", kinh tế Việt Nam đã dần hồi phục, nhân dân đã có đủ cơm ăn áo mặc và bắt đầu xuất khẩu được gạo.

Về đối ngoại, có thể nói, Đại hội lần thứ VI của Đảng (năm 1986) đã mở ra "nút thắt" cho đường lối đối ngoại của Việt Nam. Mặc dù, thời điểm đó, tư duy phải chuyển biến từng bước nhưng những người làm đối thoại trực tiếp thấy đó là cơ hội. Tuy nhiên, trong bối cảnh bị bao vây cấm vận, cô lập về chính trị và ngoại giao, chúng ta rất cần sự nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân cũng như cần thiết có sự đồng bộ, ủng hộ của tất cả các cấp các ngành trong việc triển khai đường lối đối ngoại trong thời kỳ đầu của công cuộc đổi mới.

vn-gia-nhap-asean-2.jpg
Chiều 28/7/1995, tại Trung tâm Hội nghị Quốc tế ở Brunei, đoàn đại biểu Việt Nam do Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm dẫn đầu dự Lễ kết nạp Việt Nam trở thành thành viên thứ 7 của ASEAN. Trong ành: Các Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN và Tổng Thư ký ASEAN chào mừng Việt Nam trở thành thành viên chính thức thứ 7 của ASEAN. Ảnh: TTXVN.

Nghị quyết của Đại hội VI và các nghị quyết của Trung ương đã chuyển hướng chính sách ngoại giao, chủ trương đẩy mạnh và mở rộng quan hệ với tất cả các nước trên thế giới, không phân biệt chế độ chính trị-xã hội khác nhau, thi hành chính sách hữu nghị, hợp tác, tồn tại hòa bình để phát triển, phù hợp với lợi ích của nhân dân ta và xu thế phát triển chung của thế giới.

Nhìn lại chặng đường đầu tiên của công cuộc đổi mới do Đảng ta phát động bắt đầu từ Đại hội VI có thể thấy đó là chủ trương hoàn toàn đúng đắn. Thực hiện chính sách đối ngoại rộng mở theo tư duy mới, ngoại giao Việt Nam đã kết hợp với bạn bè và những lực lượng tiến bộ trên thế giới để xử lý, giải quyết vấn đề quan hệ với các nước láng giềng.

Chúng ta bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc (năm 1991), với Hoa Kỳ (năm 1995), gia nhập ASEAN (1995), gia nhập ASEM (Hội nghị Á-Âu) vào năm 1996, APEC (tháng 11/1998), và trên phương diện ngoại giao kinh tế, chúng ta đã ký rất nhiều các hiệp định kinh tế song phương, đa phương với các nước.

Đây là bước đột phá cực kỳ quan trọng về mặt ngoại giao, tạo điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc đổi mới về mặt kinh tế nhằm thực hiện những nhiệm vụ chiến lược.

“Trong cuộc đời làm ngoại giao của tôi, tôi luôn chú trọng các hoạt động ngoại giao văn hóa”

Nguyên Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Dy Niên

Phóng viên: Ngoại giao văn hóa được xem là “quyền lực mềm”, “sức mạnh mềm” trong bảo vệ lợi ích quốc gia, nâng cao vị thế trên trường quốc tế. Vậy ông đánh giá thế nào về vai trò của ngoại giao văn hóa, góp phần quảng bá văn hóa Việt Nam ra thế giới; đồng thời tiếp thu văn hóa nhân loại để làm giàu cho nền văn hóa đất nước?

Ông Nguyễn Dy Niên: Ngay từ khi khởi xướng đường lối đổi mới, Đảng và Nhà nước ta đã xác định ngoại giao văn hóa là một trong ba trụ cột của nền ngoại giao toàn diện, bên cạnh chính trị và kinh tế.

Trên thực tế, ba lĩnh vực này gắn bó chặt chẽ, bổ trợ cho nhau, trong đó văn hóa vừa là nền tảng, vừa là chất xúc tác để ngoại giao chính trị và kinh tế phát huy hiệu quả.

Trong nhiều thập kỷ qua, hoạt động ngoại giao văn hóa đã làm cho thế giới hiểu biết hơn về đất nước, văn hóa và con người, tăng cường xây dựng lòng tin với các quốc gia trên thế giới, đưa quan hệ giữa Việt Nam với các đối tác đi vào chiều sâu, ổn định và bền vững, qua đó nâng cao vị thế đất nước trên trường quốc tế, tạo điều kiện hỗ trợ phát triển kinh tế-xã hội. Cùng với đó, các hoạt động giao lưu văn hóa góp phần tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại, làm phong phú và sâu sắc thêm những giá trị văn hóa truyền thống của đất nước.

Trong cuộc đời làm ngoại giao của tôi, tôi luôn chú trọng đến các hoạt động ngoại giao văn hóa bởi Việt Nam có bề dày văn hóa không thua kém bất cứ quốc gia nào trên thế giới. Trước khi đảm trách cương vị là Bộ trưởng Ngoại giao (từ tháng 2/2000-6/2006), tôi đã có 13 năm làm Chủ tịch Ủy ban Quốc gia UNESCO Việt Nam. Trong thời gian này, với sự nỗ lực, phối hợp giữa các cơ quan hữu quan, lần đầu tiên các di sản của Việt Nam như Cố đô Huế, Mỹ Sơn, Hội An, Vịnh Hạ Long được UNESCO công nhận là di sản thế giới.

Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng và toàn diện như hiện nay, việc làm cho cộng đồng quốc tế hiểu về đất nước, văn hóa, con người và chủ trương, chính sách tiến bộ của Việt Nam có ý nghĩa vô cùng quan trọng, góp phần nâng cao vị thế, hình ảnh và sức mạnh tổng hợp quốc gia.

Theo đó, công tác ngoại giao văn hóa cần được triển khai chủ động, tích cực, sáng tạo, đổi mới trong tổng thể hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế, bám sát yêu cầu của Tổng Bí thư Tô Lâm đã đặt ra cho ngành ngoại giao: “Kết hợp nhuần nhuyễn văn hóa với ngoại giao, văn hóa trong ngoại giao, làm cho mỗi hoạt động đối ngoại không chỉ có nội dung văn hóa sâu sắc mà còn trở thành một hoạt động văn hóa; văn hóa vừa là phương tiện, vừa là phương châm, vừa là nguyên tắc, vừa là mục tiêu của đối ngoại, không ngừng nhân sức mạnh mềm quốc gia lên tầm cao mới.”

“Vinh danh Chủ tịch Hồ Chí Minh là dấu ấn sâu đậm nhất trong đời ngoại giao của tôi”

Nguyên Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Dy Niên

nguyen-dy-nien-unesco.jpg
Phái đoàn Việt Nam tại Khóa họp lần thứ 24 của Đại Hội đồng UNESCO ở Paris (Pháp) 1987. Hàng trước trái sang: Thứ trưởng, Đại sứ Hà Văn Lâu; Thứ trưởng, Chủ tịch Ủy ban Quốc gia UNESCO Việt Nam Nguyễn Dy Niên. Ảnh: Tư liệu

Phóng viên: Trong cuộc đời làm ngoại giao, ông đã để lại dấu ấn trong công tác ngoại giao văn hóa, với các hoạt động vinh danh Chủ tịch Hồ Chí Minh ở nước ngoài và lan tỏa tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh. Vậy ông có thể chia sẻ một số kỷ niệm về sự kiện lịch sử cách đây 35 năm, khi UNESCO ra Nghị quyết vinh danh "Hồ Chí Minh là Anh hùng Giải phóng dân tộc, Nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam"?

Ông Nguyễn Dy Niên: Có thể nói, việc tham gia vào các hoạt động vinh danh Chủ tịch Hồ Chí Minh là dấu ấn sâu đậm nhất trong đời ngoại giao của tôi.

Năm 1987, tôi đã tham dự Đại hội đồng UNESCO lần thứ 24 ở Paris, Pháp với tư cách là trưởng đoàn Việt Nam. Cùng tham gia đoàn có bà Phan Thị Phúc là Tổng Thư ký Ủy ban quốc gia UNESCO và nhà thơ Huy Cận khi đó là Thứ trưởng Bộ Văn hóa và một số đồng chí Đại sứ khác. Chúng tôi tham gia vào vận động để UNESCO bỏ phiếu vinh danh Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Tại thời điểm diễn ra sự kiện này, Việt Nam mới chỉ quan hệ ngoại giao với hơn 50 nước thôi. Đa số là những nước chưa có quan hệ ngoại giao với Việt Nam đều đang chống Việt Nam quyết liệt.

Vậy mà, Đại hội đồng UNESCO đưa ra biểu quyết và đạt được số phiếu ủng hộ gần như tuyệt đối vinh danh Bác Hồ. Việc thế giới vinh danh Chủ tịch Hồ Chí Minh là minh chứng cho nguồn sức mạnh mềm, danh tiếng và uy tín của lãnh tụ và đất nước Việt Nam, một dân tộc anh hùng.

Nghị quyết 59 đánh dấu bước ngoặt lịch sử trong tiến trình hội nhập quốc tế

2d7a5373.jpg
Tổng Bí thư Tô Lâm tiếp Trưởng đoàn chính đảng các nước đến Việt Nam dự Lễ kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh 2/9, ngày 1/9/2025, tại Trụ sở Trung ương Đảng. Nguồn: Bộ Ngoại giao.

Phóng viên: Ông có nhận xét gì về quan điểm chỉ đạo của Đảng trong Nghị quyết 59 về hội nhập quốc tế hiện nay và phương hướng thực hiện các mục tiêu Nghị quyết đề ra?

Ông Nguyễn Dy Niên: Theo tôi, sự ra đời của Nghị quyết số 59 là quyết sách quan trọng, đánh dấu bước ngoặt lịch sử trong tiến trình hội nhập quốc tế của đất nước, xác định hội nhập là động lực chiến lược để Việt Nam vững bước vào kỷ nguyên mới.

Sau gần 40 năm đổi mới, hội nhập quốc tế, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu nổi bật, khá toàn diện, góp phần vào gia tăng sức mạnh tổng hợp quốc gia, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích quốc gia, dân tộc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; nâng cao tiềm lực, vị thế, uy tín của đất nước và đã chuyển từ hội nhập kinh tế quốc tế sang hội nhập quốc tế sâu rộng, toàn diện; tích cực đóng góp vào nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế trong ứng phó với các thách thức toàn cầu và thúc đẩy hợp tác vì phát triển hữu nghị và quan hệ giữa các quốc gia.

Báo cáo những nội dung chính của Nghị quyết số 59-NQ/TW đưa ra 5 quan điểm chỉ đạo về hội nhập quốc tế. Những quan điểm này đã được đề cập trong các nghị quyết trước đây, nhưng trong Nghị quyết số 59-NQ/TW, có những quan điểm được khẳng định lại để cho thấy đây là những quan điểm xuyên suốt của Đảng trong quá trình đổi mới, hội nhập.

Với việc vận dụng hiệu quả "Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh" vào hoạt động đối ngoại, Nghị quyết 59 sẽ là “cơ hội vàng”, là bệ phóng cho ngoại giao; góp phần đưa Việt Nam vững bước tiến lên, bước vào kỷ nguyên mới để đất nước ta sánh vai với các cường quốc năm châu như Chủ tịch Hồ Chí Minh hằng mong muốn.

Phóng viên: Nhìn lại chặng đường 40 năm đổi mới, ông thấy đâu là bài học quan trọng nhất và đâu là yếu tố quyết định để Việt Nam đạt mục tiêu trở thành nước phát triển vào năm 2045?

img-7138-1.jpg
Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính chụp ảnh chung cùng các đại biểu tham dự buổi Lễ trao tặng Huân chương Lao động hạng Nhất cho Ủy ban Biên giới quốc gia, Bộ Ngoại giao nhân Lễ kỷ niệm 50 năm thành lập (1975 - 2025), ngày 15/12/2025. Nguồn: Bộ Ngoại giao.

Ông Nguyễn Dy Niên: Theo tôi, cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức bộ máy hành chính và tổ chức mô hình chính quyền địa phương hai cấp do Đảng ta mà đứng đầu là Tổng Bí thư Tô Lâm khởi xướng, đang thực hiện một cách quyết liệt có ý nghĩa vô cùng quan trọng, giúp chuyển trạng thái từ một nước đang phát triển thành một nước phát triển vào năm 2045.

Để thực hiện thành công cuộc cách mạng này, điều tiên quyết vẫn là thay đổi tư tưởng, tư duy, như cách mà Đảng đã thực hiện cách đây 40 năm. Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng, Việt Nam cần phải đi cùng nhân loại, cùng thế giới, cùng các nước. Tuy nhiên, cũng lưu ý vấn đề giữ gìn bản sắc dân tộc và cho rằng, dù hội nhập sâu đến đâu cũng phải "giữ bản sắc của mình".

Những nghị quyết, kết luận mà Đảng đã ban hành thời gian qua, trong đó có 4 Nghị quyết được coi là “Bộ tứ trụ cột” gồm: Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết 59-NQ/TW ngày 24/1/2025 của Bộ Chính trị về "Hội nhập quốc tế trong tình hình mới"; Nghị quyết số 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới; Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân có tác động lớn đến phát triển kinh tế-xã hội của đất nước.

Từ những khó khăn ban đầu của công cuộc Đổi mới đến vị thế hiện tại, cùng với những kỳ vọng và thách thức cho tương lai, tôi có niềm tin sâu sắc Đại hội Đảng lần thứ XIV là một "Đại hội bản lề" mở ra kỷ nguyên mới, tin tưởng vào con đường mà đất nước đang đi và khát vọng về một Việt Nam "sánh vai cùng các cường quốc năm châu" như ước nguyện của Bác Hồ.

Trân trọng cảm ơn nguyên Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Dy Niên!

Có thể bạn quan tâm