Đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Việt Nga, Phó Trưởng Đoàn chuyên trách Đoàn Đại biểu Quốc hội thành phố Hải Phòng khẳng định: Nghị quyết 66 đã mở ra một hướng đi đúng và trúng, không dừng lại ở chủ trương mà đang từng bước đi vào thực tiễn, trở thành nền tảng và động lực cho sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước trong kỷ nguyên mới.
Quốc hội thông qua Nghị quyết Kỳ họp thứ 10 - Kỳ họp cuối cùng của Quốc hội khóa XV. (Ảnh: QH)
Quốc hội thông qua Nghị quyết Kỳ họp thứ 10 - Kỳ họp cuối cùng của Quốc hội khóa XV. (Ảnh: QH)
Sau một thời gian triển khai, Nghị quyết số 66-NQ/TW của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật đã tạo ra những chuyển biến rõ nét trong toàn bộ hệ thống chính trị. Nhân dịp này, phóng viên Báo Nhân Dân đã có cuộc trao đổi với đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Việt Nga, Phó Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội chuyên trách thành phố Hải Phòng, nhằm làm rõ những kết quả nổi bật của Quốc hội trong việc triển khai thực hiện Nghị quyết số 66-NQ/TW.
Tạo cuộc “đổi mới tư duy” sâu sắc trong toàn bộ chu trình chính sách
Phóng viên: Thưa đại biểu, sau thời gian triển khai Nghị quyết 66 của Bộ Chính trị, đại biểu đánh giá đâu là những kết quả nổi bật, thể hiện rõ nhất tinh thần đổi mới và quyết tâm chính trị trong thực tiễn?
Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga: Có thể khẳng định, Nghị quyết số 66-NQ/TW của Bộ Chính trị đã nhanh chóng đi vào cuộc sống và bước đầu tạo ra những chuyển động rất rõ nét, thể hiện tinh thần đổi mới mạnh mẽ và quyết tâm chính trị cao trong toàn bộ hệ thống chính trị.
Kết quả nổi bật đầu tiên chính là sự chuyển biến về nhận thức và tư duy đối với vai trò của pháp luật. Pháp luật không còn được nhìn nhận đơn thuần là công cụ quản lý hay kiểm soát xã hội, mà đã được xác lập rõ ràng là động lực kiến tạo phát triển, là nền tảng cho quản trị quốc gia hiện đại. Đây là thay đổi có ý nghĩa căn bản, bởi tư duy đúng sẽ dẫn tới hành động đúng và cách làm đúng.
Ngay sau khi Nghị quyết được ban hành, các thiết chế triển khai đã được hình thành đồng bộ, kịp thời. Ban Chỉ đạo Trung ương về hoàn thiện thể chế, pháp luật được thành lập; Chính phủ ban hành chương trình hành động; Quốc hội ban hành nghị quyết về cơ chế, chính sách đặc thù cho công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật. Cách làm này cho thấy Nghị quyết 66 không dừng lại ở chủ trương, mà được thiết kế để đi thẳng vào tổ chức thực hiện, tạo “đường ray” thể chế rõ ràng cho cả hệ thống.
Một kết quả rất đáng ghi nhận là việc rà soát, tháo gỡ các điểm nghẽn pháp luật đã được triển khai trên quy mô lớn, có trọng tâm, trọng điểm. Hàng trăm khó khăn, vướng mắc phát sinh từ quy định pháp luật đã được các cơ quan chức năng nhận diện, phân loại và xử lý theo lộ trình cụ thể. Nhiều địa phương, bộ, ngành đã chủ động rà soát văn bản quy phạm pháp luật, mạnh dạn kiến nghị sửa đổi, bãi bỏ những quy định chồng chéo, thiếu khả thi, gây cản trở cho đầu tư, sản xuất, kinh doanh và đời sống xã hội.
Đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Việt Nga, Phó Trưởng Đoàn chuyên trách Đoàn Đại biểu Quốc hội thành phố Hải Phòng phát biểu tại tổ. (Ảnh: QH)
Đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Việt Nga, Phó Trưởng Đoàn chuyên trách Đoàn Đại biểu Quốc hội thành phố Hải Phòng phát biểu tại tổ. Ảnh: QH
Cùng với đó, tinh thần lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm trong xây dựng và thi hành pháp luật đã thể hiện rõ hơn trong thực tiễn. Việc cắt giảm thủ tục hành chính, đơn giản hóa quy trình, rút ngắn thời gian và chi phí tuân thủ pháp luật không còn là khẩu hiệu mà đã được lượng hóa bằng những con số cụ thể. Đây là thước đo rất quan trọng để đánh giá hiệu quả thực chất của Nghị quyết.
Nhìn tổng thể, kết quả bước đầu của Nghị quyết 66 cho thấy một thông điệp rất rõ: Đảng ta đã lựa chọn cải cách thể chế, pháp luật là khâu đột phá chiến lược, và quyết tâm chính trị ấy đang được hiện thực hóa bằng hành động cụ thể, có kiểm tra, giám sát và đánh giá kết quả.
Phóng viên: Từ góc nhìn giám sát và lập pháp, đại biểu cho biết Nghị quyết 66 đã tác động như thế nào đến tư duy xây dựng pháp luật, điều hành và tổ chức thực hiện chính sách hiện nay?
Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga: Từ góc độ giám sát và lập pháp, có thể nói Nghị quyết 66 đã tạo ra một cuộc “đổi mới tư duy” sâu sắc trong toàn bộ chu trình chính sách, từ khâu đề xuất, xây dựng đến tổ chức thực hiện và giám sát pháp luật.
Trước hết, tư duy xây dựng pháp luật đã có sự dịch chuyển rõ rệt từ “quản lý” sang “kiến tạo”.
Nếu trước đây, trong không ít trường hợp, pháp luật được xây dựng theo logic “quản không được thì cấm”, thì nay tinh thần chủ đạo là tạo không gian pháp lý an toàn để đổi mới sáng tạo, khuyến khích các mô hình mới, cách làm mới, đồng thời quản lý rủi ro bằng công cụ phù hợp. Đây là thay đổi rất quan trọng trong bối cảnh kinh tế số, xã hội số và hội nhập quốc tế sâu rộng.
Thứ hai, Nghị quyết 66 đã làm rõ hơn yêu cầu gắn xây dựng pháp luật với thực tiễn điều hành và phát triển.
Trong quá trình thẩm tra, thảo luận các dự án luật, Quốc hội ngày càng đặt nặng yêu cầu đánh giá tác động chính sách một cách thực chất, không hình thức; yêu cầu làm rõ tác động đến người dân, doanh nghiệp, ngân sách nhà nước và năng lực thực thi của bộ máy. Điều này giúp hạn chế tình trạng “luật trên giấy”, khó đi vào cuộc sống.
Thứ ba, trong hoạt động giám sát, tư duy “giám sát để thúc đẩy cải cách” được thể hiện rõ hơn.
Giám sát không chỉ nhằm phát hiện sai phạm, mà quan trọng hơn là chỉ ra những bất cập mang tính thể chế, những khoảng trống pháp luật, những quy định chưa phù hợp với thực tiễn để kiến nghị sửa đổi, hoàn thiện. Đây chính là tinh thần xuyên suốt của Nghị quyết 66: Coi hoàn thiện pháp luật là quá trình liên tục, gắn chặt với đời sống xã hội.
Cuối cùng, Nghị quyết 66 cũng tác động mạnh đến tư duy tổ chức thực hiện chính sách.
Trách nhiệm của người đứng đầu trong xây dựng và thi hành pháp luật được nhấn mạnh hơn; kỷ luật, kỷ cương trong ban hành văn bản được siết chặt hơn; đồng thời, việc ứng dụng công nghệ số trong quản lý, theo dõi, đánh giá thi hành pháp luật được thúc đẩy mạnh mẽ. Những thay đổi này tạo tiền đề quan trọng để nâng cao hiệu lực, hiệu quả của pháp luật trong thực tế.
Tổng Bí thư Tô Lâm, Thủ tướng Phạm Minh Chính, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn cùng các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước thực hiện nghi thức khai trương nền tảng “Bình dân học vụ số-Quốc hội số”. (Ảnh: DUY LINH)
Tổng Bí thư Tô Lâm, Thủ tướng Phạm Minh Chính, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn cùng các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước thực hiện nghi thức khai trương nền tảng “Bình dân học vụ số-Quốc hội số”. (Ảnh: DUY LINH)
Thể hiện rõ tinh thần lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm
Phóng viên: Quốc hội đã và đang thể chế hóa các quan điểm, định hướng lớn của Nghị quyết 66-NQ/TW bằng những hoạt động lập pháp, giám sát, quyết định vấn đề quan trọng nào để bảo đảm Nghị quyết đi vào cuộc sống, thưa đại biểu?
Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga: Trong thời gian qua, Quốc hội Việt Nam đã triển khai đồng bộ nhiều hoạt động để thể chế hóa các quan điểm, định hướng lớn của Nghị quyết 66,
Về lập pháp, Quốc hội đã ban hành các nghị quyết quan trọng tạo khung pháp lý đặc thù cho công tác xây dựng và tổ chức thi hành pháp luật, cho phép áp dụng những cơ chế linh hoạt, vượt trội nhằm nâng cao chất lượng chính sách, thu hút nguồn lực, đặc biệt là nguồn lực con người chất lượng cao cho lĩnh vực pháp luật. Đồng thời, trong chương trình xây dựng luật, pháp lệnh, Quốc hội đã ưu tiên xem xét, sửa đổi các luật có tác động lớn đến môi trường đầu tư, kinh doanh, tổ chức bộ máy và quyền con người, quyền công dân.
Về giám sát, Quốc hội và các Ủy ban của Quốc hội đã tăng cường giám sát chuyên đề đối với việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật, việc tổ chức thi hành pháp luật ở các bộ, ngành, địa phương; chú trọng giám sát những lĩnh vực dễ phát sinh “điểm nghẽn” pháp lý. Kết quả giám sát không chỉ được sử dụng để kiến nghị xử lý trách nhiệm, mà còn làm căn cứ quan trọng để điều chỉnh chính sách, sửa đổi luật.
Về quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, Quốc hội đã xem xét, quyết định nhiều nội dung có tính nền tảng như tổ chức bộ máy, phân cấp, phân quyền, cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số… Đây đều là những lĩnh vực mà Nghị quyết 66 xác định là trọng tâm để tạo đột phá về thể chế, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị quốc gia.
Đại biểu Quốc hội ấn nút thông qua Nghị quyết về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh năm 2025. (Ảnh: QH)
Đại biểu Quốc hội ấn nút thông qua Nghị quyết về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh năm 2025. (Ảnh: QH)
Phóng viên: Theo đại biểu, đâu là những điểm mới, mang tính đột phá trong các luật, nghị quyết được Quốc hội ban hành nhằm cụ thể hóa Nghị quyết 66, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới?
Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga: Theo tôi, điểm mới, mang tính đột phá dễ nhận thấy nhất là sự thay đổi cách tiếp cận trong xây dựng luật. Các luật, nghị quyết gần đây không chỉ tập trung vào việc quy định “làm gì, không được làm gì”, mà chú trọng thiết kế cơ chế vận hành, phân định rõ thẩm quyền, trách nhiệm, đồng thời tạo dư địa linh hoạt cho tổ chức thực hiện.
Một điểm đột phá quan trọng khác là đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với kiểm soát quyền lực. Nhiều luật đã trao quyền chủ động hơn cho địa phương, cơ sở, đi kèm với cơ chế giám sát, hậu kiểm và trách nhiệm giải trình rõ ràng. Cách làm này vừa phát huy tính năng động, sáng tạo của địa phương, vừa bảo đảm kỷ luật, kỷ cương pháp luật.
Ngoài ra, các luật, nghị quyết mới cũng thể hiện rõ tinh thần lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm. Việc cắt giảm điều kiện kinh doanh không cần thiết, đơn giản hóa thủ tục, số hóa quy trình đã được luật hóa, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho cải cách hành chính một cách bền vững, không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của từng nhiệm kỳ.
Tăng cường giám sát, coi đây là khâu then chốt để pháp luật đi vào cuộc sống
Phóng viên: Để tiếp tục triển khai hiệu quả Nghị quyết 66-NQ/TW trong thời gian tới, đại biểu cho rằng Quốc hội cần tập trung vào những giải pháp trọng tâm nào, đặc biệt trong việc hoàn thiện thể chế và tháo gỡ các “điểm nghẽn” về pháp luật?
Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga: Trong thời gian tới, để Nghị quyết 66 tiếp tục phát huy hiệu quả, theo tôi, Quốc hội cần tập trung vào một số giải pháp trọng tâm.
Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật theo hướng đồng bộ, ổn định và khả thi, hạn chế tối đa tình trạng chồng chéo, mâu thuẫn giữa các luật. Việc sửa đổi, ban hành luật cần đặt trong tổng thể hệ thống, tránh tư duy cục bộ, ngành nào biết ngành đó.
Thứ hai, tăng cường giám sát việc tổ chức thi hành pháp luật, coi đây là khâu then chốt để pháp luật đi vào cuộc sống. Giám sát cần gắn với trách nhiệm giải trình của cơ quan ban hành và thực thi pháp luật, kịp thời phát hiện và xử lý các “điểm nghẽn” phát sinh từ thực tiễn.
Thứ ba, đầu tư cho nguồn nhân lực pháp luật chất lượng cao, cả trong cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp. Con người là yếu tố quyết định chất lượng chính sách và hiệu quả thực thi pháp luật.
Cuối cùng, cần đẩy mạnh chuyển đổi số trong xây dựng và thi hành pháp luật, ứng dụng dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo để hỗ trợ đánh giá tác động chính sách, theo dõi thi hành pháp luật và nâng cao tính minh bạch.
Nghị quyết 66 đã mở ra một hướng đi đúng và trúng. Vấn đề còn lại là chúng ta kiên trì thực hiện đến cùng, biến quyết tâm chính trị thành kết quả cụ thể, để pháp luật thực sự trở thành nền tảng và động lực cho sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước trong kỷ nguyên mới.
Phóng viên: Xin trân trọng cảm ơn đại biểu!
Ngày xuất bản: 15/1/2026
Chỉ đạo: NGỌC THANH
Tổ chức thực hiện: NAM ĐÔNG-VĂN BẮC
Nội dung: THU HẰNG
Trình bày: ÁNH DƯƠNG