Bảo tồn và phát huy theo hướng nào?
Ðây là câu hỏi được nhiều người quan tâm nhất. GS-TSKH Tô Ngọc Thanh cho rằng: "Phải có thái độ ứng xử đúng với quy luật văn hóa là vừa bảo tồn, vừa phát triển không gian văn hóa cồng chiêng sao cho phù hợp với cuộc sống đương đại". Ông cũng lưu ý thêm: Trong quá trình ấy tuyệt đối không được phép có chuyện "được mới, nới cũ" như đã từng xảy ra tại một số cộng đồng dân tộc thiểu số bản địa tại nhiều địa phương. Bởi việc làm đó là "hết sức nguy hiểm" đối với một di sản văn hóa nhân loại như văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.
Với nhà nghiên cứu văn hóa dân gian dày dạn kinh nghiệm và có uy tín này thì thái độ xa rời, đoạn tuyệt với những giá trị truyền thống cũ để nắm bắt và hướng đến cái mới trong ý thức "mất gốc, lai căng" là có lỗi với lịch sử, với chính mình.
Bản thân ông cũng như nhiều nhà khoa học khác (GS-TS Ngô Ðức Thịnh, PGS-TS Nguyễn Chí Bền, Bùi Trọng Hiền...) đã chỉ ra: Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên là một phần không thể tách rời dòng chảy lịch sử, văn hóa của người Tây Nguyên. Thêm nữa, đó còn là một biểu tượng đặc sắc cho trí tuệ, tài năng sáng tạo văn hóa âm nhạc độc đáo của người dân bản địa.
Và giờ đây, những giá trị ấy của cồng chiêng phải được bảo tồn, gìn giữ nguyên dạng mọi đặc trưng của nó. Thạc sĩ Lê Xuân Hoan - Nhà nghiên cứu văn hóa dân gian có tâm huyết và có trách nhiệm ở Gia Lai cho rằng: Cải tiến, phát huy một giá trị văn hóa đã được tôn vinh, thừa nhận (như văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên) mà không có sự kế thừa và tiếp nối liền mạch thì không thể chấp nhận được.
Theo anh, việc "cải tiến" dàn chiêng theo kiểu gò lại thang âm của phương Tây có đủ bảy nốt (đồ, rê, mi, pha, son, la, si...) để chơi một bài nhạc cụ thể nào đó là hoàn toàn xa lạ với truyền thống vốn có. Cái "mới" trong cách "cải tiến" này (từ thang âm - điệu thức - nhịp điệu - tiết tấu... đến hình thức và kỹ thuật biểu diễn) đang xúc phạm, xâm lăng vốn văn hóa nghìn đời của các dân tộc bản địa.
Ông cho biết thêm, cách đây vài năm, đội chiêng "cải tiến" của huyện Mang Yang đã trình diễn bài chiêng (Groong Kpô) tại một lễ hội đâm trâu được tổ chức ở địa phương khiến người nghe vô cùng thất vọng. Thất vọng vì bè đệm của dàn chiêng gồm nhiều chiếc đã bị "tinh giảm biên chế" gần hết, chỉ còn lại ba chiếc cồng có núm và một chiếc trống bịt da, nên khi diễn tấu bài chiêng trên, người nghe chỉ còn cảm nhận được "phần nổi" mà thôi. Còn cái "hồn vía" chất chứa sâu thẳm của bài chiêng đã mất hết, chẳng có ý nghĩa gì.
Những người am hiểu văn hóa cồng chiêng cho rằng, giai điệu bài chiêng ấy chỉ có ý nghĩa và đem lại hiệu quả cảm xúc thật sự khi nó được hòa vang trong một phức thể âm thanh nhiều cấp độ gồm: chiêng bằng, chiêng núm, tiếng trống cùng tiếng hò reo phấn khích của cả cộng đồng người dự lễ. Như vậy, qua những dẫn chứng trên cho thấy một điều hệ trọng: cải biến cồng chiêng cho phù hợp với đời sống hiện nay, không có nghĩa là vứt bỏ, phá phách mọi giá trị truyền thống vốn có; mà ngược lại phải hết sức lưu ý yếu tố kế thừa và phát huy đúng nghĩa các giá trị truyền thống ấy.
Ðâu là không gian văn hóa cồng chiêng?
Cồng chiêng trong dòng chảy văn hóa đương đại đã dần thoát khỏi "môi trường thiêng" vốn dĩ để trở thành một hoạt động văn hóa nghệ thuật gần gũi và đời thường hơn. Không gian văn hóa cồng chiêng không còn bó hẹp trong lễ nghi tâm linh và tín ngưỡng dân gian xưa, mà đã hiện diện khắp nơi, kể cả trên sân khấu hiện đại. Nhiều người cho đó là sự "lột xác" của văn hóa cồng chiêng nhằm tìm đến với đời sống mới. Song, cũng có nhiều ý kiến băn khoăn: Liệu đó có phải là không gian văn hóa cồng chiêng- điều quan trọng và cốt lõi mà UNESCO đã căn cứ vào đó để công nhận là di sản văn hóa nhân loại (?)
Nhìn nhận vấn đề này, GS Tô Ngọc Thanh cũng như GS Trần Văn Khê cho rằng: Cồng chiêng ngày càng thoát ra khỏi "môi trường thiêng" để đi vào cuộc sống đương đại đầy biến chuyển này cũng là điều tất yếu, nhưng đó là sự lan tỏa của văn hóa cồng chiêng, chứ không nên coi đó là sự "mở rộng" không gian văn hóa cho cồng chiêng.
Bởi nói gì thì nói, môi trường sinh thành ra văn hóa cồng chiêng chỉ thật sự có ý nghĩa khi được gắn liền với phong tục, lễ hội và tín ngưỡng dân gian. Tách cồng chiêng ra khỏi môi trường ấy, coi như giá trị văn hóa đặc trưng và độc đáo này không còn hàm chứa "mã số thông tin" về mặt văn hóa, lịch sử nào nữa!
Do điều kiện xã hội thay đổi, cồng chiêng Tây Nguyên mất dần cơ sở và môi trường diễn xướng, khiến số phận của nó trở nên mong manh. Vậy nên nỗ lực và tích cực gìn giữ, khôi phục môi trường sống cho cồng chiêng theo hướng nguyên trạng là tốt nhất. Nhưng bằng cách nào và bước đi ra sao lại tùy thuộc vào sự lưu tâm và trách nhiệm của chính mỗi cộng đồng dân tộc ở đây.
Sự thay đổi tín ngưỡng (kể cả hiện tượng quay lưng của lớp trẻ hiện nay đối với cồng chiêng...) không thể đổ lỗi cho cơ chế thị trường. Trái lại, cần bình tĩnh và dũng cảm công nhận rằng: Văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên không biến mất trong bất cứ hoàn cảnh lịch sử-xã hội nào, vì ngay từ khi sinh thành nó đã mang trong mình bản chất, tính đa nghĩa của một giá trị văn hóa tiêu biểu nhằm đáp ứng nhu cầu đời sống vốn phong phú của con người.
Hiện nay, tuy chức năng xã hội, tín ngưỡng... bị giảm hay mất đi ít nhiều, nhưng chức năng biểu hiện cảm xúc, hay nói cách khác là chính hình tượng nghệ thuật của cồng chiêng Tây Nguyên luôn mô tả, chuyên chở những cảm xúc của con người, của cộng đồng trước một hiện thực xã hội nhất định. Như thế, nghệ thuật cồng chiêng chẳng những không mất đi mà còn tồn tại và trở thành một bộ phận hữu cơ của nền văn hóa đương đại.