Chiến thắng của hồng quân liên xô và thời cơ cách mạng Việt Nam


Cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại năm 1917 mở ra thời đại mới trong sự phát triển của nhân loại, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười không chỉ là thắng lợi của nhân dân Nga mà còn là thắng lợi của cách mạng vô sản, thắng lợi của loài người tiến bộ, là ngọn cờ hiệu triệu của thời đại mới cổ vũ quần chúng lao động đứng lên xóa bỏ áp bức, bóc lột, xây dựng quan hệ bình đẳng, hữu nghị giữa các dân tộc. Chính vì thế, chiến tranh thế giới lần thứ nhất, lần thứ hai, khởi đầu là để giải quyết mâu thuẫn giữa các tập đoàn đế quốc, phát-xít, nhưng ở chiều sâu vẫn là sự thống nhất trong âm mưu chống Liên Xô, chống lực lượng cách mạng giải phóng dân tộc trên thế giới.

Sau Cách mạng Tháng Mười, dưới sự lãnh đạo của V.I.Lê-nin và Đảng cộng sản bôn-sê-vích, nhân dân Liên Xô nỗ lực phi thường để vừa chống lại sự bao vây của đế quốc, đánh thắng thù trong giặc ngoài, vừa tập trung xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, vì cuộc sống ấm no của nhân dân và chuẩn bị đối phó với các cuộc phản kích của đế quốc, tư bản. Từ một nước nông nghiệp, Liên Xô trở thành một nước công nghiệp tiên tiến, có nền quốc phòng hùng mạnh.

Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Liên Xô, đứng đầu là Xta-lin, các dân tộc trong Liên bang Xô-viết đã chịu đựng muôn vàn gian khổ, hy sinh, tiến hành thắng lợi cuộc chiến tranh vệ quốc, không những bảo vệ được nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên, mà còn cứu loài người khỏi thảm họa phát-xít, tạo điều kiện thắng lợi cho cách mạng XHCN ở một loạt nước châu Ấu, châu Á và châu Mỹ La-tinh, đưa CNXH thoát khỏi phạm vi một nước, trở thành hệ thống thế giới, thúc đẩy cách mạng ở các nước thuộc địa, phụ thuộc xóa bỏ chủ nghĩa thực dân cũ và mới. Thắng lợi của Hồng quân Liên Xô trong chiến tranh chống phát-xít còn tạo ra sự phát triển của phong trào cộng sản, công nhân quốc tế và phong trào hòa bình, dân chủ và tiến bộ xã hội. Không có sự mở đầu từ Cách mạng Tháng Mười, không có sự hy sinh của người dân Xô-viết để chiến thắng chủ nghĩa phát-xít trong chiến tranh thế giới thứ hai, loài người tiến bộ không thể có được những bước tiến vĩ đại trong thế kỷ 20. Chỉ có những người chiến thắng mới thấy hết được ý nghĩa sâu xa của cái giá phải trả cho lý tưởng giải phóng con người, cho việc bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ chế độ ưu việt thật sự vì hạnh phúc của con người.

Cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra ngay từ đầu trên hành trình tìm đường cứu nước, cứu dân khi Bác tiếp nhận ánh sáng chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Việt Nam, ở thời điểm ấy, không có cái may mắn như một loạt nước châu Ấu và nhiều nước khác được giải phóng khi Hồng quân Liên Xô trên con đường tiến công tận sào huyệt cuối cùng của phát-xít Đức, đánh tan đội quân Quan Đông của phát-xít Nhật. Nhưng chiến thắng của Hồng quân Liên Xô chống phát-xít Đức, Nhật đã tạo ra một trong những điều kiện, thời cơ cho cách mạng Việt Nam. Cách mạng Tháng Tám năm 1945, xét về mặt thời cơ, đó là sự cộng hưởng của thời cơ quốc tế và thời cơ mà Đảng và nhân dân ta tạo ra. Một thực tế hiển nhiên ai cũng biết là, cùng thời cơ, điều kiện các nước phát-xít đầu hàng Liên Xô và Đồng minh, rất nhiều nước gần Việt Nam có lực lượng vũ trang mạnh hơn gấp bội, có quần chúng cách mạng đông đảo, nhưng không giành được chính quyền cho nhân dân như Việt Nam, sớm như Việt Nam. Cách mạng Tháng Tám là sự mở đầu cho thắng lợi của cách mạng Việt Nam và các thắng lợi tiếp theo. Để giành thắng lợi cho cách mạng, Đảng ta không chỉ xây dựng đường lối và phương pháp cách mạng đúng đắn, dày công xây dựng lực lượng cách mạng, lực lượng vũ trang nhân dân mà còn phải dũng cảm lãnh đạo, tổ chức nhân dân đấu tranh, điều hành chiến tranh, tạo thời cơ, chớp thời cơ, mở đầu và kết thúc có hiệu quả nhất, ít tổn thất nhất cho nhân dân trong giành chính quyền và trong chiến tranh cách mạng.

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là nhân tố cơ bản, quyết định tạo nên bước ngoặt lịch sử của cách mạng Việt Nam. Ngay thời gian ấy, một phong trào cách mạng bùng lên mà đỉnh cao là Xô-viết Nghệ Tĩnh (1930-1931). Cuộc nổi dậy này, tuy thất bại, nhưng nó đã thức tỉnh mạnh mẽ tinh thần cách mạng của nhân dân cả nước. Đây là cuộc tổng diễn tập theo con đường của Cách mạng Tháng Mười Nga. Trước chiến tranh thế giới lần thứ hai, thời  kỳ 1936-1939, vượt qua cuộc khủng bố, đàn áp, Đảng ta kịp thời chuyển hướng cách mạng, từ hoạt động bí mật sang nửa bí mật, nửa công khai, kết hợp đấu tranh bất hợp pháp với hợp pháp, kể cả lợi dụng các "Viện dân biểu", phát động phong trào đấu tranh sôi nổi từ thành thị đến nông thôn, chống bọn phản động thuộc địa, vua quan phong kiến, đòi tự do, dân chủ, dân sinh, bảo vệ hòa bình. Đây cũng là cuộc tổng diễn tập với nhiều hình thức đấu tranh. Sau khi chiến tranh thế giới bùng nổ, Hội nghị Trung ương lần thứ sáu (11-1939), Đảng ta chỉ đạo chuyển hướng chiến lược sang đấu tranh vũ trang - bạo lực, kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang và khởi nghĩa vũ trang. Khi phát-xít Nhật xâm chiếm Đông Dương, rồi thực dân Pháp đầu hàng quân Nhật, nhân dân ta bất khuất nổi dậy chống cả Nhật và Pháp. Nhiều cuộc khởi nghĩa đã nổ ra: Bắc Sơn (9-1940), Nam Kỳ (11-1940), Đô Lương (1-1941). Vừa xây dựng lực lượng chính trị của quần chúng, tổ chức lực lượng vũ trang, vừa chuyển trọng tâm công tác về nông thôn, giữ vững phong trào cách mạng ở thành thị, lập khu giải phóng Việt Bắc và các căn cứ du kích, Đảng ta phát động phong trào cứu nước và chiến tranh du kích chống phát-xít Nhật, Pháp. Cao trào cứu nước (1939-1945) cũng là cuộc  diễn tập cho Tổng khởi nghĩa. Dưới ngọn cờ Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, cách mạng Việt Nam từ 1941 đã đứng về phía Đồng minh chống phát-xít, thật sự chuẩn bị lực lượng tiến lên giành thắng lợi quyết định khi thời cơ đến. Mặc dù đường lối, chủ trương bám sát diễn biến của chiến tranh thế giới, thắng lợi của Hồng quân Liên Xô, chuẩn bị lực lượng về mọi mặt, rút kinh nghiệm qua các hình thức đấu tranh, nhưng các đồng chí lãnh đạo Đảng ta rất nhạy bén, nắm vững trọng tâm chỉ đạo, đưa sự chỉ đạo, chỉ huy về sát cơ quan đầu não địch. Chính vì thế mà ngay khi Nhật đảo chính Pháp, độc chiếm Đông Dương, dưới sự chủ trì của đồng chí Tổng Bí thư Trường Chinh, tối 9-3-1945, Hội nghị Thường vụ Trung ương Đảng họp ở Từ Sơn, Bắc Ninh, sát nách Hà Nội, kịp thời ra chỉ thị "Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta" chỉ đạo toàn Đảng, toàn dân nắm vững thời cơ đẩy mạnh phong trào kháng Nhật, cứu nước, gấp rút chuẩn bị tiến tới Tổng khởi nghĩa. Để lãnh đạo cuộc vùng dậy của toàn dân tộc, nhất là ở Hà Nội, đồng chí Tổng Bí thư thay mặt Bác Hồ, thay mặt Đảng trực tiếp giữ đầu mối chỉ huy ngay vùng ngoại thành, phụ cận thủ đô. Nhờ chuẩn bị mọi mặt, tạo thời cơ từ nội lực, tháng 8-1945, trước thắng lợi của Hồng quân Liên Xô trong chiến tranh chống phát-xít, và ngày 13-8-1945, Nhật đầu hàng quân Đồng minh, mở ra thời cơ giành chính quyền từ tay Nhật, Đảng ta kịp thời phát động cao trào Tổng khởi nghĩa, dựa vào lực lượng chính trị đã có trong các đô thị và nông thôn kết hợp với lực lượng vũ trang đập tan các cơ quan đầu não địch, xóa bỏ toàn bộ hệ thống cai trị, giành chính quyền trong phạm vi cả nước.

Từ bài học nắm thời cơ kết hợp với chuẩn bị lực lượng mọi mặt của cả nước, sâu sát, nhạy bén trong chỉ đạo, bằng 9 năm kháng chiến gian khổ chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ, sau chiến thắng Điện Biên Phủ "chấn động địa cầu", xuất phát từ tình hình quốc tế ít lợi hơn cho ta, nhân dân ta đã chấp nhận Hiệp định Giơ-ne-vơ tháng 7-1954 để giành nửa nước được giải phóng, đi lên CNXH, xây dựng hậu phương lớn cho cách mạng miền nam trong cuộc đụng đầu với một đế quốc hùng mạnh, to lớn hơn. Không thể nào có thắng lợi của sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước nếu không có miền bắc XHCN. Thực tế miền bắc đã dốc vào cuộc chiến tranh cứu nước và giữ nước toàn bộ sức mạnh của chế độ XHCN. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã trải qua chặng đường gần 21 năm, vượt qua bao ghềnh thác hiểm nghèo, vượt lên trên cả sức chịu đựng của con người, để giành thắng lợi theo đúng tiên đoán trong Di chúc của Bác Hồ: "Cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ, hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn". Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Đảng ta đã xây dựng được đường lối chính trị, đường lối quân sự độc lập, tự chủ, đúng đắn và sáng tạo nên đã huy động được sức mạnh của toàn dân tộc tiến hành đấu tranh quân sự, chính trị, ngoại giao, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, tạo nên sức mạnh tổng hợp để chiến thắng kẻ thù. Mở đầu chiến tranh đúng lúc, Đảng ta đã điều hành chiến tranh bằng cả trí tuệ, bản lĩnh, tài thao lược quân sự với kinh nghiệm của cha ông, kinh nghiệm của Cách mạng Tháng Mười, chiến tranh vệ quốc của Liên Xô và kinh nghiệm Cách mạng Tháng Tám, kháng chiến chống thực dân Pháp. Khi kết thúc chiến tranh, với một tầm nhìn chiến lược tuyệt vời, Đảng ta đã chọn đúng thời cơ lịch sử, thời cơ có từ tình hình quốc tế, thời cơ do chiến trường tạo ra. Kết luận Hội nghị Bộ Chính trị, ngày 10-10-1974, đồng chí Bí thư thứ nhất Lê Duẩn nói: "Lúc này, chúng ta đang có thời cơ. Hai mươi năm chiến đấu mới tạo được thời cơ này, chúng ta phải biết nắm lấy để đưa sự nghiệp giải phóng dân tộc đến thắng lợi hoàn toàn... Ở thời điểm này, Việt Nam không chỉ là vấn đề đối đầu giữa hai hệ thống thế giới mà, về khách quan, còn là một đối thủ quan trọng phải khuất phục trong sự tính toán chiến lược của các thế lực xâm lược,... tranh giành Đông - Nam Á. Ấm mưu của họ rất nguy hiểm, nhưng lúc này chưa ai sẵn sàng, chưa ai đủ sức làm nổi". Nắm thời cơ để hạ quyết tâm chiến lược như thế, nhưng trong chỉ đạo lại rất cụ thể, bám sát diễn biến tình hình. Khi ở phút 89, nắm các động thái, âm mưu các thế lực, ngày 29-4-1975, đồng chí Bí thư thứ nhất, thể hiện quyết tâm của toàn Đảng, toàn quân, đã điện khẩn vào chiến trường cho các đồng chí Lê Đức Thọ, Phạm Hùng, Văn Tiến Dũng, Trần Văn Trà và đồng chí Lê Trọng Tấn: "Bộ Chính trị và Quân ủy T.Ư đang họp thì được tin Dương Văn Minh ra lệnh ngừng bắn. Bộ Chính trị và Quân ủy T.Ư chỉ thị: Các anh ra lệnh cho quân ta tiếp tục tiến công vào Sài Gòn theo kế hoạch; tiến công với thế hùng mạnh nhất, giải phóng và chiếm lĩnh toàn bộ thành phố, tước vũ khí quân đội địch, giải tán chính quyền các cấp của địch, đập tan triệt để mọi sự chống cự của chúng". Từ thực tiễn Cách mạng Tháng Tám, kháng chiến chống thực dân Pháp đến kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, chỉ rõ có thời cơ, tạo được thời cơ, vận dụng thời cơ còn đòi hỏi sự nhạy bén chính trị và nghệ thuật điều hành.

Ngày nay, xu thế khách quan toàn cầu hóa kinh tế lôi cuốn sự hội nhập, giao lưu. Đất nước ta sau gần 20 năm đổi mới thắng lợi, đang đứng trước những thời cơ, thuận lợi, đan xen thách thức, nguy cơ. Thế và lực của chúng ta đã khác trước, cơ sở vật chất - kỹ thuật của nền kinh tế được tăng cường, đất nước còn nhiều tiềm năng chưa khai thác, chính trị - xã hội ổn định, là điểm đến của bao bạn bè quốc tế. Thời cơ, cơ hội mới đang mở ra. Nhưng vận dụng được thời cơ, chớp được thời cơ, phải từ sự chuẩn bị kỹ càng, phát huy nội lực. Bài học lịch sử của Đảng ta, nhân dân ta vẫn còn nguyên giá trị. Dù còn phải vượt qua biết bao  khó khăn, thách thức, kể cả những nguy cơ tiềm ẩn, nhưng với một Đảng vĩ đại, sáng suốt, với một dân tộc anh hùng dày dạn qua khói lửa đấu tranh và những sáng tạo trong xây dựng hòa bình, nhất định Tổ quốc ta sẽ trường tồn, tiến lên theo mục tiêu và con đường đã chọn.

Có thể bạn quan tâm