Theo UBGSTCQG, quá trình tái cơ cấu hệ thống tài chính từ cuối năm 2011 góp phần lành mạnh hóa thị trường tài chính (giảm 10% số TCTD và 25% số công ty chứng khoán). Hoạt động của khu vực tài chính Việt Nam tiếp tục phát triển an toàn với mức đủ vốn bình quân của hệ thống cao hơn mức chuẩn an toàn và khả năng sinh lời của toàn hệ thống tăng nhẹ so với năm 2015.
Tuy nhiên, so với các nước trong khu vực, quy mô hệ thống tài chính Việt Nam vẫn còn ở mức khiêm tốn, năng lực cung ứng vốn còn hạn chế, đặc biệt còn phụ thuộc nhiều vào khu vực ngân hàng. Thị trường chứng khoán Việt Nam chưa hấp dẫn nhà đầu tư nước ngoài so với tiềm năng. Nợ xấu của các TCTD chưa được giải quyết triệt để, tập trung ở một số TCTD yếu kém, khiến cho mặt bằng lãi suất cho vay vẫn chưa giảm được như kỳ vọng dù được hỗ trợ tích cực từ các yếu tố kinh tế vĩ mô.
Quy mô hệ thống tài chính còn nhỏ trong khu vực
Tổng tài sản hệ thống tài chính năm 2016 ước tăng 13,5%; tổng vốn chủ sở hữu tăng 6,8% so với cuối năm 2015. Quy mô hệ thống tài chính Việt Nam vẫn nhỏ hơn các nước trong khu vực. Tổng tài sản hệ thống tài chính tương đương 187,6% GDP, thấp hơn nhiều so với số bình quân của nhóm 5 quốc gia hàng đầu ASEAN (318% GDP).
Khả năng sinh lời của hệ thống tài chính được cải thiện. ROA bình quân đạt 0,58% (năm 2015: 0,49%), ROE bình quân đạt 7,57% (năm 2015: 5,98%).
Tái cơ cấu hệ thống TCTD đạt kết quả bước đầu
Quá trình tái cơ cấu hệ thống TCTD đến cuối năm 2016 đã tháo gỡ cơ bản các khó khăn của hệ thống: Đó là, tình trạng căng thẳng thanh khoản được kiểm soát, thanh khoản chung của toàn hệ thống ổn định; Phát hiện và khu biệt các TCTD yếu kém; Tỷ lệ nợ xấu theo báo cáo dưới 3,0%, số nợ xấu được xử lý từ năm 2013 đến nay hơn 500 nghìn tỷ đồng (trong đó số nợ bán cho VAMC chiếm 41,6%, TCTD tự xử lý khoảng 58,4%); Sở hữu chéo, đầu tư chéo dần được kiểm soát; Các TCTD chú trọng hơn vào quản trị rủi ro và quản trị điều hành, các văn bản quy phạm pháp luật về chuẩn mực an toàn trong hoạt động của các TCTD được ban hành. Hầu hết các khó khăn của hệ thống TCTD trước năm 2011 về cơ bản đã được tháo gỡ.
Xử lý nợ xấu chưa triệt để
Tuy nhiên, quá trình tái cơ cấu TCTD còn một số hạn chế, như xử lý nợ xấu của hệ thống TCTD chưa triệt để, chủ yếu áp dụng nhiều biện pháp kỹ thuật.
Theo đánh giá của UBGSTCQG, tỷ lệ nợ xấu cao hơn so với mức báo cáo. Trong số nợ xấu bán cho VAMC, chỉ mới xử lý được khoảng 38 nghìn tỷ đồng, tương đương 15% (qua bán tài sản bảo đảm và bán nợ: 14,5 nghìn tỷ đồng, ủy thác TCTD thu hồi nợ: 23,3 nghìn tỷ đồng). Lãi dự thu bất hợp lý tập trung cao tại một số TCTD yếu kém.
Bảo đảm cung ứng vốn tốt cho nền kinh tế
Nhìn chung, hệ thống tài chính đã bảo đảm tốt khả năng cung ứng vốn cho nền kinh tế. Trong năm 2016, hệ thống tài chính cung ứng khoảng một triệu 230 nghìn tỷ đồng cho nền kinh tế. Trong đó, khu vực ngân hàng cung ứng 68,1%; thị trường vốn cung ứng 31,9%. Tính đến cuối năm 2016, tổng nguồn vốn hệ thống tài chính cung ứng cho nền kinh tế tương đương 181,2% GDP.
Khả năng cung ứng vốn cho nền kinh tế của hệ thống tài chính được bảo đảm trước hết do thanh khoản của khu vực ngân hàng khá dồi dào. Điều này làm tăng khả năng cấp tín dụng cho nền kinh tế và tạo điều kiện thuận lợi cho việc huy động TPCP đạt kế hoạch năm với lợi suất TPCP giảm và kỳ hạn trung bình tăng lên. Đồng thời, diễn biến tích cực của thị trường cổ phiếu và trái phiếu đã tạo điều kiện thuận lợi cho phát hành TPDN và cổ phần hóa DNNN. Huy động vốn thông qua đấu giá cổ phần cả năm tăng 43,1% so với cùng kỳ năm 2015.
Tuy nhiên, so với các nước trong khu vực, năng lực cung ứng vốn của hệ thống tài chính Việt Nam còn hạn chế. Độ sâu tài chính của hệ thống tài chính Việt Nam chỉ đạt 181% GDP, thấp hơn so với các nước trong khu vực.
Cấu trúc hệ thống tài chính chưa hợp lý
Cơ cấu tài sản giữa các lĩnh vực trong hệ thống tài chính chưa hợp lý. Hệ thống các tổ chức tín dụng chiếm tới 96,2% tổng tài sản toàn hệ thống tài chính. Các doanh nghiệp bảo hiểm chiếm 2,8%; các công ty chứng khoán và công ty quản lý quỹ chiếm 1%.
Cung ứng vốn cho nền kinh tế phụ thuộc chủ yếu vào hệ thống ngân hàng, trong khi vốn cung ứng từ thị trường chứng khoán còn khiêm tốn so với tiềm năng và các nước trong khu vực. Cho vay của ngân hàng chiếm hơn 60% tổng cung ứng vốn cho nền kinh tế, cao hơn các nước trong khu vực với tỷ trọng bình quân dưới 50%.
Hệ thống các TCTD tiếp tục đối mặt với thách thức kỳ hạn. Tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay và đầu tư trung dài hạn của hệ thống TCTD tăng từ 31,8% năm 2015 lên khoảng 35%.
Ngoại hối dồi dào, cán cân thanh toán chuyển thặng dư
Thị trường ngoại hối khá ổn định trong suốt cả năm 2016, duy chỉ có biến động nhẹ vào cuối năm do yếu tố mùa vụ và ảnh hưởng tâm lý của việc USD tăng giá trên thị trường thế giới sau kết quả bầu Tổng thống Mỹ. Tỷ giá trung tâm tính đến cuối tháng 11 tăng khoảng hơn 1% so với đầu năm. Tỷ giá ngân hàng thương mại và thị trường phi chính thức cũng tăng trở lại, phổ biến ở mức 22.700 VND/USD vào cuối tháng 11, tăng khoảng 0,22% so với đầu năm.
Theo UBGSTCQG, nguyên nhân khiến tỷ giá tăng vào thời điểm cuối năm chủ yếu do: Đồng USD liên tục lên giá so với các đồng tiền chủ chốt, đặc biệt sau khi có kết quả chính thức của bầu cử Tổng thống Mỹ; Nhu cầu ngoại tệ tăng trở lại theo yếu tố mùa vụ nhằm đáp ứng nhu cầu thanh toán về cuối năm và đón đầu khả năng FED tăng lãi suất vào tháng 12. Cụ thể, cầu ngoại tệ đã tăng lên, thể hiện ở kim ngạch nhập khẩu hàng hóa đã chấm dứt xu hướng giảm so với năm trước và bắt đầu tăng trở lại kể từ tháng 9 và nhu cầu mua ngoại tệ để trả nợ USD trước hạn tăng lên do lo ngại tỷ giá có biến động sau bầu cử Tổng thống Mỹ.
Tuy nhiên, nguồn cung ngoại tệ hiện đang khá dồi dào do hỗ trợ tích cực từ cán cân thương mại thặng dư, FDI tăng khá. Cán cân thanh toán tổng thể dự báo có sự đảo chiều tích cực, từ mức thâm hụt hơn sáu tỷ USD vào cuối năm 2015, sang năm 2016 ước thặng dư ở mức khá cao. Bên cạnh đó, niềm tin vào VND và sự ổn định vĩ mô ngày càng được nâng cao. Nhờ đó, NHNN đã bổ sung được dự trữ ngoại hối lên mức cao kỷ lục 40 tỷ USD.
Triển vọng phải tính rủi ro
Mặc dù vậy, UBGSTCQG lưu ý chính sách tỷ giá thời gian tới cần tính đến một số yếu tố: Đó là FED chắc chắn sẽ tăng lãi suất vào tháng 12; Một số đồng tiền chủ chốt trong giỏ tính tỷ giá giảm giá mạnh so với USD, đặc biệt là đồng Nhân dân tệ, EURO và lạm phát có chiều hướng tăng.
Nhận định về tài chính năm 2016, ông Ousmane Dione, Giám đốc quốc gia WB tại Việt Nam khuyến nghị, chính sách tiền tệ đã được nới lỏng khá nhiều và tăng trưởng tín dụng tiếp tục ở mức cao, có thể làm gia tăng những nguy cơ dễ tổn thương hiện hữu về tài chính và kinh tế vĩ mô. Triển vọng trong trung hạn có phải tính đến một số rủi ro bất lợi, như chậm trễ trong triển khai chuyển đổi cơ cấu và cải cách tài khóa, kinh tế toàn cầu tiếp tục suy giảm, tình hình thị trường tài chính toàn cầu chưa khả quan và viễn cảnh tăng lãi suất tại Mỹ.
Ông Ousmane Dione cho rằng: “Ổn định kinh tế vĩ mô ở Việt Nam là môi trường thuận lợi để các nhà hoạch định chính sách đẩy mạnh tái cơ cấu, đây là điều kiện thiết yếu để tiến tới mô hình tăng trưởng dựa trên năng suất,". Theo ông Ousmane Dione: “Kế hoạch tái cơ cấu nền kinh tế giai đoạn 2016-2020, vừa được Quốc hội thông qua, sẽ xử lý được một số bất cập phát sinh trong quá trình tăng trưởng kinh tế.”