Phóng viên: Xin Chủ tịch cho biết, việc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam chuyển sang trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã mở ra cơ hội mới cho sự phát triển của Viện như thế nào?
Giáo sư, Tiến sĩ Lê Văn Lợi: Việc chuyển Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam cùng với các cơ quan truyền thông lớn như Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam trở thành đơn vị sự nghiệp của Ban Chấp hành Trung ương Đảng là quyết định mang tầm chiến lược của Đảng, mở ra cơ hội mới cho sự phát triển của hai viện hàn lâm và các cơ quan báo chí, truyền thông chủ lực của quốc gia.
Về tính tập trung, thống nhất, việc các cơ quan đảm nhận hai chức năng cốt lõi là sản xuất tri thức và truyền bá tri thức được đặt dưới sự lãnh đạo tập trung, toàn diện của Ban Chấp hành Trung ương mà trực tiếp, thường xuyên là Bộ Chính trị, Ban Bí thư sẽ là nền tảng để tạo sự kết nối giữa hoạt động nghiên cứu, phân tích, dự báo, cung cấp luận cứ khoa học với hoạt động truyền tải những giá trị đó đến toàn xã hội. Trước đây, hai dòng chảy này hoạt động song song nhưng chưa có cơ chế kết nối thực sự thông suốt. Nay, sự thống nhất lãnh đạo từ Bộ Chính trị, Ban Bí thư tạo dựng điều kiện để nghiên cứu và truyền thông đi cùng một nhịp, khi Bộ Chính trị, Ban Bí thư có chỉ đạo, các cơ quan nghiên cứu, truyền thông đồng thời thực hiện, phối hợp, tạo sự lan tỏa ra toàn xã hội, phục vụ trực tiếp mục tiêu chiến lược phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Đối với Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, điều này mở ra cơ hội rất lớn để Viện phát huy đầy đủ hơn sứ mệnh và thế mạnh khoa học của mình.
Thứ nhất, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam có cơ hội trực tiếp tiếp cận các "đặt bài" nghiên cứu từ bộ tổng tham mưu chiến lược của Đảng là Bộ Chính trị, Ban Bí thư; tham gia nghiên cứu những vấn đề mới, hệ trọng của đất nước theo các định hướng chiến lược và hoạch định phát triển quốc gia; đồng thời trực tiếp đóng góp vào công cuộc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Thứ hai, các kết quả nghiên cứu của Viện sẽ không còn phải đi qua nhiều tầng trung gian hành chính mới đến được các cơ quan hoạch định chính sách cao nhất của Đảng, đây là thay đổi mang tính đột phá đối với công tác tư vấn khoa học. Khi hoạt động nghiên cứu của Viện Hàn lâm được đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, khoảng cách giữa tư duy lý luận với định hướng chính trị, giữa nghiên cứu khoa học cơ bản với thực tiễn phát triển đất nước sẽ được rút ngắn đáng kể. Các luận cứ khoa học sẽ có điều kiện thuận lợi hơn để nhanh chóng chuyển tới các cơ quan hoạch định chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.
Có thể nói, đây vừa là cơ hội để Viện Hàn lâm khẳng định rõ hơn vai trò là cơ quan nghiên cứu cơ bản và tư vấn chiến lược hàng đầu của Đảng và Nhà nước, vừa là điều kiện để khoa học xã hội đóng góp trực tiếp, thiết thực hơn vào việc hoạch định đường lối phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Thứ ba, khi Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam và các cơ quan truyền thông quốc gia cùng đồng hành, Viện có cơ hội xây dựng các kênh hợp tác bài bản để lan tỏa tri thức khoa học xã hội đến công chúng một cách sâu rộng hơn, chất lượng hơn. Đây chính là con đường nâng cao dân trí mà chúng tôi luôn coi là sứ mệnh quan trọng.
Thứ tư, Viện Hàn lâm sẽ có cơ hội để đổi mới toàn diện phương thức vận hành để nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động.
Thứ năm, Viện Hàn lâm và các nhà khoa học, nhất là những cán bộ có trình độ chuyên sâu, có các đề tài, hướng nghiên cứu sát thực với đời sống có cơ hội phản ánh trực tiếp với Trung ương về những khó khăn, vướng mắc trong hoạt động, nhất là việc đề xuất các hướng nghiên cứu và tổ chức các đề tài nghiên cứu, ứng dụng các sản phẩm nghiên cứu vào đời sống.
Đưa Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam phát triển ngang tầm các cơ sở nghiên cứu tiên tiến trong khu vực và thế giới
Phóng viên: Bên cạnh cơ hội mới, việc chuyển sang trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng đặt ra những thách thức như thế nào với Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam?
Giáo sư, Tiến sĩ Lê Văn Lợi: Đi cùng với cơ hội là những yêu cầu và thách thức rất lớn. Khi trở thành đơn vị sự nghiệp của Trung ương Đảng, yêu cầu đối với chất lượng nghiên cứu, tư vấn chính sách, tiến độ và tính kịp thời của các sản phẩm khoa học sẽ cao hơn, trực tiếp hơn. Điều đó đòi hỏi đội ngũ cán bộ khoa học của Viện Hàn lâm phải thích ứng nhanh, kịp thời với yêu cầu của Trung ương Đảng, không chỉ giỏi về chuyên môn mà còn phải có tư duy chiến lược, tầm nhìn chính sách, bản lĩnh và khả năng phản ứng nhanh trước những vấn đề mới phát sinh từ thực tiễn đất nước và quốc tế. Đây là thách thức không nhỏ, đòi hỏi Viện Hàn lâm phải tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tổ chức, cơ chế hoạt động, phương thức nghiên cứu và đặc biệt là nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ khoa học.
Phóng viên: Trước cơ hội và thách thức như vậy, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam xác định trách nhiệm của mình như thế nào, đã và đang làm gì để hoàn thành chức năng và nhiệm vụ trong tình hình mới?
Giáo sư, Tiến sĩ Lê Văn Lợi: Chúng tôi nhận thức rất sâu sắc rằng vinh dự lớn, cơ hội lớn cũng đi kèm trách nhiệm lớn. Khi chuyển sang là đơn vị sự nghiệp của Ban Chấp hành Trung ương, Viện Hàn lâm không thể nghiên cứu theo kiểu “tháp ngà” nữa. Chúng tôi phải thực sự trở thành think tank chiến lược, cung cấp luận cứ sắc bén, kịp thời, có tính dự báo cao cho Đảng và Nhà nước. Đó vừa là niềm tự hào, vừa là trách nhiệm mà toàn thể đội ngũ cán bộ phải tự đặt ra cho mình. Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam đón nhận sự chuyển đổi này với tinh thần sẵn sàng và quyết tâm cao nhất.
Để hoàn thành chức năng, nhiệm vụ trong tình hình mới, thời gian qua, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam đã triển khai rất quyết liệt chủ trương sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy theo các nghị quyết của Trung ương, giảm đầu mối, sắp xếp lại các đơn vị theo hướng tinh gọn, hiệu quả. Sau 2 đợt sắp xếp, tổ chức lại trong năm 2025, bao gồm hợp nhất, sáp nhập các đơn vị trực thuộc và sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy bên trong các đơn vị, đến thời điểm hiện tại, Viện Hàn lâm đã giảm 12 đầu mối cấp vụ, viện và 47 tổ chức cấp phòng, 2 đội và 1 chi nhánh.
Việc sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy được thực hiện trên cơ sở kế thừa, bảo đảm tính ổn định, hạn chế xáo trộn, đồng thời gắn chặt với yêu cầu nâng cao hiệu quả hoạt động của các đơn vị. Trong thời gian tới, thực hiện chủ trương và chỉ đạo của Trung ương khi chuyển sang mô hình mới, Viện Hàn lâm sẽ nghiêm túc thực hiện, tiếp tục rà soát chức năng, nhiệm vụ, sắp xếp lại tổ chức bộ máy nhằm đáp ứng những yêu cầu, nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước đặt ra trong giai đoạn phát triển mới.
Phóng viên: Dư luận của các nhà khoa học thuộc Viện Hàn lâm trước chủ trương này như thế nào?
Giáo sư, Tiến sĩ Lê Văn Lợi: Các nhà khoa học thuộc Viện đón nhận chủ trương với tâm thế tin tưởng ở sự đổi mới để Viện Hàn lâm phát triển hơn, xứng tầm là cơ quan nghiên cứu hàng đầu của Đảng và nhà nước. Tuy nhiên, cũng còn một số yêu cầu, đề nghị về việc phân bổ đề tài gắn với kinh phí cần tránh cào bằng, bãi bỏ việc thanh toán chứng từ phiền phức, đổi mới việc nghiệm thu đề tài… Chúng tôi thấy đây là những ý kiến tích cực mà Viện cần xem xét, cải tiến.
Phóng viên: Viện có đề xuất, kiến nghị gì để giải quyết khó khăn, vướng mắc trong thời gian tới?
Giáo sư, Tiến sĩ Lê Văn Lợi: Trong giai đoạn chuyển đổi này, để bảo đảm hoạt động của Viện Hàn lâm thực sự hiệu lực, hiệu quả và phát huy được vai trò, chúng tôi kiến nghị một số nội dung trọng tâm sau:
Thứ nhất, cần bảo đảm tính liên tục, ổn định trong giai đoạn chuyển tiếp. Đây là một trong những điều quan trọng nhất trong thời điểm hiện tại. Việc chuyển đổi mô hình cần được triển khai theo nguyên tắc không làm gián đoạn các chương trình, đề tài, dự án khoa học, cũng như các cam kết quốc tế mà Viện Hàn lâm đang thực hiện; đồng thời cần có hướng dẫn cụ thể về tổ chức, nhân sự, tài chính để các đơn vị trực thuộc duy trì hoạt động ổn định trong thời gian hoàn tất chuyển đổi.
Thứ hai, cần hoàn thiện thể chế và cơ chế vận hành trong mô hình mới. Việc chuyển đổi mô hình của Viện Hàn lâm không chỉ là thay đổi về mặt tổ chức, mà cốt lõi là chuyển từ cách tiếp cận “nghiên cứu hàn lâm truyền thống” sang nghiên cứu cơ bản gắn chặt với yêu cầu hoạch định và tổ chức thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Vì vậy, nếu không làm rõ được vai trò này và thiết kế được cơ chế vận hành tương ứng, thì rất khó phát huy hết ý nghĩa của việc chuyển đổi. Do vậy, một trong những yêu cầu rất quan trọng đặt ra là cần sớm hoàn thiện hệ thống văn bản quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, cơ chế vận hành của Viện Hàn lâm trong mô hình mới, bảo đảm vừa giữ được tính đặc thù của một tổ chức nghiên cứu khoa học, vừa đáp ứng yêu cầu nghiên cứu, tư vấn chính sách trực tiếp cho Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư.
Thứ ba, về cơ chế tài chính và đầu tư cho khoa học: Khoa học xã hội và nhân văn có những đặc thù cần tính toán, cân nhắc để xây dựng các cơ chế phù hợp, trong đó cần chú ý làm sao để tăng tính chủ động, linh hoạt trong sử dụng nguồn lực; đồng thời thiết lập cơ chế đặt hàng nghiên cứu các vấn đề lớn, có tính chiến lược, dài hạn, gắn trực tiếp với yêu cầu hoạch định chính sách của Đảng và Nhà nước. Thực tiễn quốc tế cho thấy, các viện hàn lâm chỉ phát huy được vai trò khi có khả năng tập trung nguồn lực cho các chương trình nghiên cứu lớn, dài hạn và liên ngành. Do đó, cần sớm hoàn thiện cơ chế đặt hàng các “bài toán lớn” của quốc gia, đồng thời đổi mới phương thức tổ chức nghiên cứu theo hướng linh hoạt, giảm dàn trải, tăng tính tích hợp và chiều sâu.
Có một nghịch lý rất đáng lo ngại: Trong khi kinh phí nhà nước đầu tư cho khoa học, công nghệ tăng, thì kinh phí cho hoạt động nghiên cứu khoa học của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam lại giảm liên tục từ năm 2022 đến nay. Với nguồn lực như vậy, rất khó đòi hỏi nghiên cứu đột phá. Kiến nghị của chúng tôi là: Sớm phê duyệt kế hoạch tài chính trung và dài hạn cho Viện Hàn lâm, không áp dụng chính sách cắt giảm ngân sách chung. Viện Hàn lâm cần có một tỉ lệ kinh phí nhất định từ tổng đầu tư cho khoa học, công nghệ dành cho khoa học xã hội và nhân văn.
Thứ tư, về cơ chế quản lý khoa học: Mặc dù thời gian qua đã có nhiều đổi mới trong xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật về khoa học công nghệ nhưng các quy định hành chính về tài chính, thủ tục đề tài còn nhiều điểm bất hợp lý. Nhà khoa học mất quá nhiều thời gian cho thủ tục hành chính thay vì tập trung nghiên cứu. Vì vậy, cần tiếp tục đơn giản hóa thủ tục tài chính theo hướng khoán đến sản phẩm đầu ra cuối cùng. Bên cạnh đó, hiện nay các tiêu chí đánh giá khoa học chủ yếu là dành cho khoa học tự nhiên và công nghệ, rất bất cập với khoa học xã hội và nhân văn. Từ tiêu chí đánh giá đầu ra cho đến cấu trúc một bài tạp chí, và cả đến giải thưởng khoa học, đều là các tiêu chí của khoa học tự nhiên, khoa học công nghệ. Cần xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá riêng cho khoa học xã hội và nhân văn, coi trọng tác động xã hội và chất lượng hơn số lượng công bố.
Thứ năm, về tổ chức bộ máy và nguồn nhân lực: Đây là vấn đề mang tính thách thức lớn nhất. Hiện toàn Viện Hàn lâm chỉ còn 2 giáo sư, trong đó 1 giáo sư sẽ nghỉ hưu trong năm 2026 và 52 phó giáo sư, giảm nhiều lần so với 5 năm trước đây. Đội ngũ trẻ dưới 30 tuổi chỉ chiếm 3,2%, trong khi hơn 13% cán bộ sắp đến tuổi nghỉ hưu. Tình trạng chảy máu chất xám sang trường đại học và tổ chức quốc tế vẫn diễn ra vì Viện không thể cạnh tranh về đãi ngộ. Để giữ chân các nhà khoa học và bước đầu thu hút nhân tài, cần ban hành cơ chế lương và phụ cấp đặc thù theo cơ quan Đảng; bỏ quy định tỷ lệ nghiên cứu viên cao cấp không vượt quá 10%, quy định này chưa thực sự hợp lý với một cơ quan nghiên cứu đầu ngành quốc gia. Cho phép Viện Hàn lâm chủ trì đề án đào tạo nhân lực ưu tú với cơ chế nhà nước tài trợ 100% cho những người theo học các ngành đặc thù như Hán Nôm, Khảo cổ học,… những ngành đang có nguy cơ mai một thực sự.
Thứ sáu, về chuyển đổi số và hạ tầng tri thức: Một trong những điều kiện quan trọng bậc nhất để các chuyên gia, nhà nghiên cứu có thể nâng cao năng lực phân tích chính sách và dự báo là dữ liệu. Do vậy, cần ưu tiên đầu tư xây dựng hệ thống dữ liệu khoa học xã hội quốc gia, phát triển hạ tầng thông tin-thư viện hiện đại, tăng cường nguồn lực cho công tác chuyển đổi số; đồng thời đẩy mạnh ứng dụng trí tuệ nhân tạo vào hoạt động nghiên cứu, từ thu thập, xử lý và phân tích dữ liệu lớn đến hỗ trợ dự báo xu hướng và tư vấn chính sách nhằm nâng tầm chất lượng và hiệu quả nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn trong kỷ nguyên số.
Thứ bảy, về tổ chức hệ sinh thái nghiên cứu: Nhằm phát huy tối đa nguồn lực, đồng thời gắn kết chặt chẽ hơn giữa nghiên cứu khoa học với thực tiễn phát triển và yêu cầu hoạch định chính sách, cần thiết phải hình thành một hệ sinh thái nghiên cứu. Do vậy, phải tăng cường cơ chế phối hợp giữa Viện Hàn lâm với các cơ quan tham mưu chiến lược của Đảng, các bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp và các tổ chức nghiên cứu trong và ngoài nước.
Cuối cùng, chúng tôi đề xuất tiếp tục khẳng định và nâng cao vị thế của khoa học xã hội và nhân văn như một “hạ tầng mềm” của phát triển quốc gia, đóng vai trò cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chính sách trong kỷ nguyên phát triển mới của đất nước.
Có thể khẳng định rằng, với mô hình tổ chức mới, với sự quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện, trực tiếp, sát sao của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, các khó khăn, vướng mắc về thể chế, cơ chế và nguồn lực được tháo gỡ đồng bộ, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam sẽ phát huy mạnh mẽ vai trò là trung tâm nghiên cứu hàng đầu của Đảng và Nhà nước trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn, góp phần quan trọng vào sự nghiệp phát triển nhanh và bền vững đất nước trong kỷ nguyên mới.
Phóng viên: Trân trọng cảm ơn Chủ tịch!