Kỹ sư Phạm Văn Bắc, Phó Vụ trưởng Vụ vật liệu xây dựng cho biết, gạch không nung (GKN) còn gọi là gạch siêu nhẹ vì tỷ trọng chỉ bằng một nửa đến hai phần ba so với gạch nung đặc, giúp công trình giảm tải, chi phí xử lý nền móng và hệ thống kết cấu. Sử dụng gạch này, tổng mức đầu tư xây dựng công trình có thể giảm từ 7- 10% so với gạch nung, trong khi tiến độ xây nhanh gấp hai đến năm lần. Chẳng hạn qua thực tế tính toán, tòa nhà 35 tầng của Công ty An Phú tại Văn Giang, Hưng Yên giảm 56 tỷ đồng, tương đương 10% so với kết cấu truyền thống, sau khi sử dụng gạch bê tông khí kết hợp với thiết kế sàn rỗng, giúp tải trọng công trình từ sàn, cột, tường, móng giảm đáng kể.
Các loại GKN có kết cấu nhiều lỗ khí, được phân bố đều với mật độ cao nên tính năng cách âm tốt gấp hai lần so với gạch xây thông thường, đồng thời giữ ấm cho ngôi nhà về mùa đông, mát về mùa hè, tiết kiệm điện năng sưởi hoặc điều hòa nhiệt độ... Hiệu quả bảo ôn của tường gạch bê tông không nung có chiều dày 20cm sẽ tương đương với bức tường gạch đất nung có chiều dày 49cm. Theo các chuyên gia vật liệu xây dựng, sử dụng GKN có thể tiết giảm tới 40% chi phí điện năng tiêu thụ của máy điều hòa.
Gạch được sản xuất theo nhiều kích thước phù hợp và chính xác, giúp rút ngắn thời gian thi công và hoàn thiện. Đặc biệt tường xây bằng các loại gạch này giúp công tác hoàn thiện như lắp đặt điện nước cực kỳ dễ dàng, cho phép khoan, doa, tạo rãnh, tạo hốc đơn giản hơn nhiều so với gạch nung, mang lại sự tiện lợi và linh hoạt trong thi công.
Về môi trường, ông Bắc giải thích: Với thành phần cấu tạo là vật liệu trơ và các chất vô cơ, các loại GKN hoàn toàn không độc hại, có độ cứng, độ bền và khả năng chống cháy cao. Ngoài ra, với cấu trúc thông thoáng, chúng còn có thể tự khuếch tán hơi nước, giải phóng độ ẩm và loại trừ các vấn đề liên quan đến nấm mốc, phù hợp với điều kiện thời tiết nắng nóng, độ ẩm cao như ở khu vực miền Bắc. Trái lại, gạch đất nung tiêu tốn rất nhiều nhiên liệu, đặc biệt là than đá. Quá trình nung phát thải một lượng lớn khí độc hại ra môi trường, ảnh hưởng đến sức khỏe con người, làm giảm năng suất cây trồng và làm mất đi nhiều diện tích đất nông nghiệp, vốn đang bị đe dọa của quá trình đô thị hóa.
Đối với nhà sản xuất, GKN giúp họ tận dụng được nguồn đất ít có giá trị kinh tế như đất đồi cằn cỗi tại các vùng trung du, đất sét pha ven sông, đất thải từ các công trình đào móng nhà, hầm lò, ao hồ, các loại đất, đá tại các công trường khai thác quặng, thậm chí các nguồn phế thải rắn tại chỗ như bê tông, gạch vỡ, cát, đá sỏi, xỉ lò, các bã quặng bô xít… Điều này giúp nhà sản xuất giảm thiểu chi phí vận chuyển, và phí môi trường, vì không phát thải khí CO2.
Các tài liệu kỹ thuật cũng cho thấy, GKN như gạch bê tông khí chưng áp có độ cứng gần gấp hai lần gạch nung. Viên GKN được ép với máy thủy lực trên 150 tấn nên bề mặt viên gạch nhẵn và đồng đều, giúp giảm công, vữa trát tường và thời gian xây dựng. Công trình sớm hoàn thành và đưa vào khai thác sẽ làm tăng giá trị kinh tế cho nhà đầu tư.
Chính vì vậy tại Mỹ và châu Âu, từ lâu GKN đã được sử dụng rộng rãi, chiếm tới 70% các loại vật liệu xây dựng. Tại Việt Nam, các nhà đầu tư và tư vấn nước ngoài cũng đi đầu trong sử dụng GKN nhập khẩu cho các dự án nhà cao tầng, mang lại hiệu quả cao. Các công trình lớn của các nhà đầu tư nước ngoài và tư nhân như Keangnam, Hanoi Landmark Tower, Hà Nội Hotel Plaza, Làng Việt kiều châu Âu - Hà Ðông, Habico Tower, Khách sạn Horison... luôn ưu tiên sử dụng GKN, ông Bắc cho biết.
Những rào cản cần dỡ bỏ
Đối với trong nước, kể từ hồi tháng 4-2010 sau khi Thủ tướng đã phê duyệt Chương trình mục tiêu phát triển sản xuất và sử dụng loại GKN thay thế gạch đất sét nung thì thị trường mới có những chuyển động ban đầu. Theo đó, kể từ năm 2011, các công trình sử dụng vốn nhà nước, từ chín tầng trở lên sẽ phải sử dụng tối thiểu 30% GKN loại nhẹ, có lượng thể tích không lớn hơn 1000 kg mỗi m3 trong tổng số vật liệu xây, và phấn đấu đến năm 2015 tỷ lệ này đạt 20-25% và năm 2020 là 30-40%. Như vậy, sẽ có khoảng 15-20 triệu tấn phế thải công nghiệp (tro xỉ nhiệt điện, xỉ lò cao...) được tận dụng để sản xuất GKN hằng năm. Các dự án chế tạo thiết bị và sản xuất GKN sẽ được ưu đãi về nhiều loại thuế. Vì vậy, gần đây một số đơn vị Nhà nước đã đầu tư xây dựng nhà máy sản xuất các loại GKN thân thiện môi trường. Tuy nhiên tỷ lệ sử dụng vật liệu này hiện vẫn còn rất thấp, do người dân vẫn quen sử dụng gạch đất nung cỡ nhỏ, xây theo lối thủ công truyền thống. Ngoài ra, các công trình trong nước ít sử dụng loại vật liệu này vì phụ thuộc nhiều quy định phức tạp, thiếu những quy chuẩn, tiêu chuẩn về kỹ thuật dẫn tới khó khăn cho hoạt động dự toán, thanh toán, quyết toán.
Cả nước hiện có gần 30 doanh nghiệp lập dự án đầu tư, trong đó bảy dự án đã đi vào sản xuất ra sản phẩm với công suất một triệu m3/năm, hai dự án đã lắp đặt thiết bị xong nhưng chưa đưa vào sản xuất thử và hơn 12 dự án đang trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư và lắp đặt thiết bị, song hiện nay một số dự án phải hoãn, giãn tiến độ vì thị trường gặp khó khăn về tiêu thụ và vốn vay. Các công trình lớn bị đình trệ do cắt giảm đầu tư công khiến ngành công nghiệp sản xuất VLXD non trẻ bị vạ lây.
Công ty CP bê tông khí Viglacera do ông Nguyễn Đức Hưng làm giám đốc mới đi vào sản xuất từ cuối năm 2010. Tuy nhiên đến thời điểm này, công ty đang tồn kho hàng trăm nghìn m3 gạch bê tông khí chưng áp, với trị giá từ bảy đến tám tỷ đồng. Trong khi đó, công ty vẫn đang phải gánh lãi vay ngân hàng từ 22,5% đến 23%/năm.
Một khó khăn khác là dây chuyền của nhà máy bê tông khí Viglacera có công nghệ Đức, nhưng thiết bị nhập khẩu từ Trung Quốc và một phần sản xuất trong nước. Trong khi Việt Nam chưa xây dựng được một bộ tiêu chuẩn riêng, nên các nhà chính sách đã sử dụng bộ tiêu chuẩn của châu Âu, khiến các sản phẩm sản xuất trong nước khó đạt tới. Ông Hưng ví von: “Gà ăn cám công nghiệp thì làm sao đẻ được trứng vàng”.
Ông Hưng cũng cho rằng, công tác tuyên truyền sử dụng loại gạch mới này chưa được quan tâm ở nhiều cấp, nên người dân, các nhà đầu tư, quản lý và kỹ sư thi công trong nước còn băn khoăn. Đặc biệt là định mức đầu tư đối với loại gạch này chưa được cụ thể hóa, dẫn đến các chủ đầu tư không thể đưa vào dự toán để quyết toán các công trình. Vì vậy chỉ những ai thật sự am hiểu và các chủ đầu tư ngoài vốn ngân sách mới quyết định sử dụng sản phẩm gạch nhẹ không nung, nhưng cũng vẫn chưa nhiều, ông Hưng thêm.
Ở vai trò quản lý nhà nước, kỹ sư Phạm Văn Bắc có cùng quan điểm khi cho rằng, sản xuất GKN đòi hỏi vốn đầu tư lớn do phải nhập khẩu dây chuyền nhưng gặp đúng lúc tình hình kinh tế khó khăn chung, hàng không bán được vì sản phẩm mới, trong khi cơ chế chính sách có nhưng hiệu lực thực thi lại chưa cao. Ông Bắc so sánh, chính sách của Trung Quốc đưa GKN vào các công trình rất mạnh. Ngoài những ưu đãi về miễn giảm thuế, họ còn cấm gạch đỏ đặc hoặc gạch có độ rỗng thấp, cấm tiêu thụ, vận chuyển…
Ông Bắc chỉ ra rằng chúng ta chưa có quy chuẩn, hướng dẫn thi công các loại gạch này để các doanh nghiệp sử dụng lập dự toán, lập báo cáo nên họ mượn cớ này để không làm. Ông nói: “Ở ta, làm đúng nguyên tắc, âm vẫn chi, nhưng sai thì có lợi vẫn không làm”. Bên cạnh đó, quy định bắt buộc sử dụng 30% GKN cho nhà chín tầng mới chỉ áp dụng cho các công trình có vốn nhà nước và hiện vẫn chưa có chế tài xử phạt.
Năm 2010, GKN mới chiếm từ 12% đến 13% vật liệu xây dựng. Để nâng cao tỷ lệ này, ông Bắc đưa ra ba kiến nghị: Cần sớm xóa bỏ các loại vật liệu nung sử dụng công nghệ lạc hậu; Hỗ trợ doanh nghiệp phát triển GKN để hạ giá thành sản phẩm và Vừa khuyến khích, vừa bắt buộc sử dụng vật liệu này.
Ông nói: “Nếu bảo đảm được cả ba yếu tố trên vừa đồng bộ, vừa đủ mạnh mới mong phát triển được vật liệu này”.