Vì sao chương trình phát triển cà-phê chè đạt hiệu quả thấp?

Một chương trình hiệu quả thấp

Quyết định số 172/TTg, ngày 24-3-1997, của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt "Chương trình phát triển 40 nghìn ha cà-phê chè Arabica đến năm 2001" đã giao cho Tổng công ty cà-phê Việt Nam (VINACAFE) làm chủ đầu tư, quản lý và điều hành. Tổng vốn đầu tư hơn 791 tỷ đồng; trong đó vay AFD 212 triệu phrăng; số còn lại từ các dự án khuyến nông, giải quyết việc làm, xóa đói, giảm nghèo, 327, vốn tự có của VINACAFE và nhân dân tự đầu tư. Do phải làm các thủ tục pháp lý cần thiết, chương trình thực hiện năm 1999 và được gia hạn đến năm 2004. Theo VINACAFE, đến hết năm 2004, năm tỉnh miền núi phía bắc và 10 đơn vị thuộc VINACAFE đã trồng 12.892 ha cà-phê, đạt 33,4% kế hoạch diện tích. Tổng vốn giải ngân cho các hợp phần gần 190 tỷ đồng, đạt 47% kế hoạch và vốn đối ứng (ngân sách cấp, quỹ hỗ trợ phát triển và các nguồn vốn khác) hơn 210 tỷ đồng. Chưa kể nhân dân đầu tư nhiều tỷ đồng cho trồng mới và chăm sóc cà-phê. Ðến nay, cũng đã xây dựng, lắp đặt 40 máy chế biến cà-phê (xát tươi và xát khô) tại các cơ sở sản  xuất.  Phát  triển cà-phê chè đã tạo việc làm cho hàng nghìn người, đời sống nhân dân ở một số vùng được cải thiện.

Ông Nguyễn Văn Hải, Giám đốc Công ty đầu tư sản xuất và xuất nhập khẩu cà-phê - cao-su Nghệ An cho biết: Công ty và nhân dân huyện Nghĩa Ðàn đã trồng gần 2.100 ha cà-phê, bằng 49% mức kế hoạch. Trừ 43 ha cà-phê do lẫn giống bị sâu phá hại phải thanh lý; số còn lại đều được trồng, chăm sóc đúng quy trình, đầu tư đủ định mức, chất lượng vườn cây tốt, độ đồng đều cao, đạt 90-95% loại tốt và khá; năng suất bình quân 12-15 tấn quả tươi, nơi cao 18-25 tấn quả tươi/ha. Với năng suất bình quân này và giá hiện nay 1.500 đồng/kg quả tươi, người sản xuất thu 18-20 triệu đồng/ha, đủ trả nợ vốn đầu tư và có lãi 2-6 triệu đồng/ha. Vụ sản xuất vừa qua, công ty mua 3.027 tấn quả tươi, chế biến và xuất khẩu 288 tấn cà-phê nhân với giá 1.781 USD/tấn; kim ngạch xuất khẩu đạt 513 nghìn USD. Không chỉ ở Nghệ An, các tỉnh Ðiện Biên, Sơn La, Công ty đầu tư dịch vụ đường 9 tại Hướng Hóa (Quảng Trị), A Lưới (Thừa Thiên - Huế)... cũng có những vườn cà-phê phát triển khá tốt.

Trong tổng số 12.892 ha cà-phê đã có hơn 3.220 ha mất trắng, chiếm hơn 24% diện tích trồng theo dự án. Hiện nay còn gần 10 nghìn ha, trong đó chỉ có hơn một phần ba loại tốt, số còn lại trung bình và xấu. Năng suất bình quân thấp, 8-15 tấn quả tươi/ha và chưa ổn định, tỷ lệ hạt lửng, lép còn nhiều. Tỉnh Yên Bái trồng hơn 2.667 ha cà-phê (cả trong và ngoài chương trình), nay chỉ còn 350 ha cho thu hoạch nhưng năng suất rất thấp. Tỉnh Hà Giang trồng hơn 116 ha cà-phê đã mất trắng, không thu được nợ. Một số đơn vị thuộc VINACAFE như Nông trường Phi Liêng trồng 353 ha cà-phê, Nông trường Lộc Tân (Lâm Ðồng) trồng 299 ha cũng gần như mất trắng.

Ông Bùi Khắc Quyền ở thôn Ðồng Sang, xã Thọ Sơn, Triệu Sơn (Thanh Hóa) bức xúc nói: Gia đình vay hơn 15,5 triệu đồng trồng và chăm sóc 3.000 cây cà-phê (0,6 ha). Năm 2003 thu hoạch vụ đầu được năm tấn quả tươi, thì có tới 50% quả lép. Sau đó không hiểu vì sao cây cà-phê cứ chết dần, nay tôi chuyển sang trồng mía. Ông Nguyễn Văn Năm, người cùng xã, cho biết: năm 2000 trồng 0,5 ha cà-phê, năm 2002 cho năm tấn quả tôi mừng lắm. Nhưng năng suất cà-phê cứ tụt dần, năm 2004 chỉ thu được 1,5 tấn. Vụ này, do nắng hạn, mất trắng 0,3 ha. Bà con trong xã phá hết cà-phê rồi, có lẽ tôi cũng phải bỏ cà-phê chuyển sang trồng cây khác. Trao đổi ý kiến với các đồng chí lãnh đạo Công ty cao-su Thanh Hóa, chúng tôi được biết: Từ năm 1999 đến nay, công ty đã đầu tư hơn 93 tỷ đồng cho 6.384 hộ vay trồng hơn 4.000 ha cà-phê ở chín huyện trong tỉnh. Ðây là đơn vị trồng được nhiều cà-phê nhất và cũng là nơi thiệt hại nặng nhất. Ðến tháng 9-2004 đã mất trắng hơn 2.118 ha cà-phê, chiếm hơn 53% diện tích. Số còn lại, loại tốt không đáng kể, chủ yếu là trung bình, xấu và rất xấu.

Nguyên nhân và giải pháp

Quyết định của Chính phủ kèm theo quy chế về vay vốn AFD, vốn tín dụng ưu đãi, đầu tư theo kế hoạch để trồng mới, chăm sóc cà-phê được nông dân trong vùng dự án phấn khởi, đón nhận. VINACAFE, các ngành liên quan, các địa phương triển khai dự án trình duyệt theo quy định. Nhưng nhiều vướng mắc đã nảy sinh trong quá trình thực hiện. Mức vốn đầu tư thấp, thực hiện đúng quy trình, cà-phê cho năng suất cao cần đầu tư 30-35 triệu đồng/ha. Nhưng nguồn vốn vay AFD quá ít, khi đầu là sáu triệu đồng, sau điều chỉnh lên 10 triệu đồng, rồi 15 triệu đồng/ha; phần còn lại tùy thuộc vào quỹ hỗ trợ và các ngân hàng cho vay hay không. Ngân sách địa phương eo hẹp, dân nghèo không có vốn đầu tư thêm, do vậy đã bỏ bớt các khâu kỹ thuật cần thiết. Cơ chế tài chính hiện áp dụng cho các dự án vay phân ra nhiều tầng, nhiều cấp, thiếu phối hợp chặt chẽ, cho nên lãi suất vốn vay đối với người hưởng lợi cuối cùng tăng lên và việc giải ngân bị chậm.

Chủ trương phát triển cà-phê ở nước ta là đúng và có cơ sở khoa học. Nhưng quá trình thực hiện chương trình, nhiều diện tích cà-phê xấu kém, hiệu quả thấp, nhiều nơi phải bỏ. Do những nguyên nhân chủ yếu sau:

Theo các nhà khoa học ngành nông nghiệp, việc xác định vùng cà-phê của chương trình là đúng, những địa phương trong vùng có điều kiện sinh thái phù hợp để trồng cây cà-phê chè. Nhưng việc lựa chọn khu vực cụ thể còn chưa thích hợp. Nhiều địa phương đưa cây cà-phê chè vào trồng trên đất xấu, cằn cỗi, sỏi đá, thậm chí có vườn cây trồng trên đất trũng đọng nước, cho nên năng suất thấp, tỷ lệ quả lép cao. Cũng có địa phương trồng cà-phê dàn trải, manh mún, lẻ tẻ trên diện rộng không tiện cho việc quản lý; tập trung đầu tư cho trồng mới, không đủ sức chăm sóc, cho nên vườn cà-phê giai đoạn đầu phát triển tốt, nhưng khi bước vào thời kỳ kinh doanh bị suy thoái... Công tác quản lý, điều hành dự án từ trung ương đến địa phương thiếu đồng bộ, cán bộ vừa thiếu lại vừa yếu. Vai trò hỗ trợ quan tâm của các cấp chính quyền và tính chủ động của các chủ dự án ở một số địa phương còn hạn chế, dẫn đến hiệu quả đạt thấp, gây mất vốn Nhà nước, tiền của công sức của nhân dân. Ðến nay, phần lớn các đơn vị thua lỗ, nợ từ vài chục tỷ đến hơn 100 tỷ đồng, lúng túng, chưa có giải pháp khắc phục, chỉ đề nghị Nhà nước khoanh nợ, xóa nợ. Nguyên nhân khách quan có ý nghĩa quyết định là do giá cà-phê những năm qua giảm mạnh, người sản xuất bỏ mặc hoặc đầu tư cầm chừng.

Ðể nhanh chóng khắc phục những yếu kém, vướng mắc, phát triển cây cà-phê chè bền vững, hiệu quả, theo chúng tôi, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, ngành cà-phê cần có quy hoạch tổng thể, vùng, khu vực đủ điều kiện về đất đai, khí hậu; nghiên cứu, chọn lựa để có bộ giống cà-phê thích hợp bảo đảm năng suất, chất lượng cao. Ở các địa phương phát triển cà-phê chè cần xác định cụ thể từng khu vực, vùng đất, khí hậu, lao động, nguồn vốn... bảo đảm điều kiện "cần và đủ" để phát triển cà-phê chè. Với diện tích cà-phê hiện còn, các địa phương cần tạo vốn cho dân đầu tư thâm canh theo hướng hiệu quả, bền vững. Những diện tích cà-phê trong chương trình bị mất trắng sớm chuyển sang trồng cây trồng khác hiệu quả hơn. Cần tạo cơ chế thuận lợi cho các đơn vị thực hiện dự án quản lý, thu mua sản phẩm đã đầu tư theo Quyết định 80 của Thủ tướng Chính phủ. UBND các tỉnh, chính quyền các cấp hỗ trợ nông dân vùng dự án trong việc làm giao thông, thủy lợi, công tác khuyến nông. Có cơ chế, chính sách khuyến khích hộ nông dân trồng cà-phê để họ yên tâm đầu tư phát triển cà-phê hiệu quả và hoàn trả vốn cho Nhà nước. Ðồng thời phải làm rõ trách nhiệm các cá nhân, tập thể trong việc tổ chức thực hiện chưa đến nơi, đến chốn chương trình này, dẫn đến thua lỗ mất vốn của Nhà nước, tiền của, công sức của nhân dân.

Có thể bạn quan tâm