Chúng ta tưởng nhớ, ghi ơn và thờ các Vua Hùng đã có công dựng nước, các nhân vật lịch sử đã phất cao cờ nghĩa diệt thù, giữ nước. Ðối với các liệt sĩ đã xả thân cứu nước từ thời xa xưa không để lại tên, dân ta đã tôn thờ một biểu tượng về tuổi trẻ chí lớn xông pha chống giặc cứu nước, được phong là Thánh Gióng, là Phù Ðổng Thiên Vương, đã đánh thắng giặc Ân xâm lược, thời Hùng Vương thứ 6.
Trong lịch sử các triều đại phong kiến ở nước ta, khi có giặc ngoài đến xâm lược, các liệt sĩ đã quên mình để bảo vệ nền độc lập của đất nước do vua làm chủ, coi đó là nghĩa vụ thiêng liêng, với ý nghĩ rằng "nước là của vua" đã được sách trời ghi nhận.
Từ khi công cuộc giành độc lập để dân làm chủ được đề xướng, cuộc đấu tranh quên mình của liệt sĩ có thêm ý nghĩa mới: vì nước gắn với vì dân. Chúng ta còn có những liệt sĩ xả thân vì nghĩa vụ quốc tế cao cả.
Việc kỷ niệm Ngày Thương binh, liệt sĩ ở nước ta đã trở thành một trong những ngày lễ hội lớn hằng năm. Suy nghĩ về ngày này, chúng ta nhận thức được một lẽ sống vô cùng cao đẹp.
Trước hết đó là lẽ sống của các liệt sĩ. Trong lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 19-12-1946, có nêu hai chữ: "Hy sinh". "Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ". Hy sinh tất cả là một yêu cầu rất cao, trong đó sự hy sinh của liệt sĩ cho dân, cho nước là ở mức cao tột cùng. Ðó là sự xả thân, tức là hy sinh đến xương, đến máu. Biết rằng, trực tiếp đương đầu với giặc thù cướp nước vô cùng hung bạo, có thể chết, nhưng không sợ. Có những liệt sĩ đã xả thân bằng tự biến mình thành ngọn lửa sáng ngời lẽ sống vì nước, vì đạo nghĩa.
Cùng với lẽ sống của liệt sĩ còn có lẽ sống của thương binh, những người từng dấn thân nơi trận mạc, xông pha dưới mưa bom bão đạn, sẵn sàng bỏ mình vì nghĩa lớn, nhưng không chết mà mang thương tật. Thương binh của chúng ta phải dai dẳng đương đầu với những thử thách rất gay gắt trong cuộc sống đời thường, nhưng nhiều thương binh của chúng ta đã phấn đấu theo một lẽ sống: thương binh tàn nhưng không phế. Nhiều anh em thương binh đã đạt được những thành tích kỳ diệu.
Ðối với những người thân trong gia đình của liệt sĩ, thương binh lại có một lẽ sống khác biệt, sống trong sự chịu đựng, khắc phục khó khăn và kìm nén nỗi đau. Nghĩ rằng, thương khóc mà để người khác biết sẽ ảnh hưởng đến tinh thần, không dám cho chồng con ra trận nên chờ đến đêm khuya mới thầm chảy nước mắt. Bà mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Rành, quê ở ấp Trúc Ðèn, xã Phước Hiệp, huyện Củ Chi, có tám con là liệt sĩ. Mẹ Rành đã để lại một câu nói rất hay: "Mất tám con, mỗi lần má đau như đứt ruột, nhưng má vui, vì đã được nước".
Lẽ sống của liệt sĩ, lẽ sống của thương binh, lẽ sống của người mẹ, người vợ trong các gia đình thương binh, liệt sĩ là một lẽ sống rất cao đẹp, cao đẹp tuyệt vời.
Lẽ sống đó bắt nguồn từ lòng yêu nước là nội dung cốt lõi trong văn hóa Việt Nam.
Hiện nay, chúng ta đang thực hiện chủ trương "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh", trong đó đức hàng đầu là trung với nước, hiếu với dân. Ðó cũng chính là lẽ sống cao đẹp của các liệt sĩ, thương binh, các Bà mẹ Việt Nam Anh hùng. Tôn vinh một lẽ sống đẹp, thực hiện theo đạo lý ăn quả nhớ kẻ trồng cây, uống nước nhớ nguồn, đền ơn đáp nghĩa là nghĩa vụ thiêng liêng của toàn xã hội, là việc làm "phải đạo" của mỗi chúng ta.