Nguyên nhân thứ tư là nội dung của Pháp lệnh Dân số, cụ thể là Ðiều 10 của Pháp lệnh. Nhiều người muốn cho đây là nguyên nhân thứ nhất, thậm chí là nguyên nhân duy nhất. Ðúng là Ðiều 10 của pháp lệnh có thúc đẩy thêm việc tăng dân số trở lại, nhưng nếu không có pháp lệnh thì ba nguyên nhân nói trên cũng đã kéo lùi công tác này. Theo niên giám thống kê thì mức giảm tỷ lệ phát triển dân số trong mười năm (1993 - 2002) có thể chia làm hai thời kỳ: từ 1993 đến 2000 mức giảm sinh trung bình hằng năm là hơn 0,05% (cụ thể là 0,055%), nhưng hai năm 2001 - 2002 (chưa có pháp lệnh) mức này chỉ còn 0,02%. Có pháp lệnh cùng với ba nguyên nhân trên làm cho tỷ lệ phát triển dân số tăng trở lại và làm cho việc xử lý tình hình càng lúng túng.
Ðánh giá như thế nào về Ðiều 10 Pháp lệnh Dân số? Theo chúng tôi: Không sai, nhưng chưa trúng. Không sai về bản chất, nhưng chưa trúng về mục tiêu. Xét về bản chất, sinh đẻ là việc riêng của các cặp vợ chồng. Vì vậy, nêu lên quyền các cặp vợ chồng quyết định những khía cạnh liên quan vấn đề sinh con là không sai. Chúng ta đã có kinh nghiệm về một văn bản với những quy định rất cụ thể, rất chặt chẽ, nhưng trần trụi, không thể hiện được bản chất của sự việc nên đã không đi vào cuộc sống. Trước tình hình chỉ tiêu hạ tỷ lệ phát triển dân số xuống còn 1,7% được đưa ra từ Ðại hội Ðảng lần thứ IV, nhưng đến Ðại hội Ðảng lần thứ V, rồi Ðại hội Ðảng lần thứ VI, vẫn phải nhắc lại, nhằm thúc đẩy công tác DS-KHHGÐ, chuẩn bị cho Ðại hội Ðảng lần thứ VII, Ủy ban Quốc gia DS-KHHGÐ lúc bấy giờ đã trình Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) ký Quyết định 162/HÐBT ngày 18-10-1988 về "Một số chính sách DS-KHHGÐ". Trong đó quy định số con cho từng vùng, từng nhóm dân cư, thậm chí cho cả người tái kết hôn đã có hai con riêng được đẻ thêm một con chung, người đẻ lần đầu mà sinh đôi thì coi như hết tiêu chuẩn, đẻ lần thứ hai sinh đôi thì coi như không vi phạm, v.v. nhưng đến Ðại hội Ðảng lần thứ VII, tỷ lệ phát triển dân số vẫn còn cao hơn nhiều so với con số 1,7%. Vì vậy về vấn đề DS-KHHGÐ, văn kiện Ðại hội Ðảng lần thứ VII chỉ nói chung, không ghi chỉ tiêu về giảm tỷ lệ phát triển dân số nữa. Nhưng tại sao nói pháp lệnh chưa trúng về mục tiêu? Vì mục tiêu của chính sách là mỗi cặp vợ chồng chỉ có hai con. Cái hay của nghị quyết (NQ) là sau hơn 30 năm tiến hành cuộc vận động KHHGÐ, lần đầu chúng ta đề ra mục tiêu của cuộc vận động mà toàn xã hội hiểu rằng, đó là chỉ tiêu về số con của mỗi cặp vợ chồng. Trước đây, chúng ta đưa ra chỉ tiêu "mỗi gia đình một hoặc hai con" để đạt mục tiêu giảm tỷ lệ phát triển dân số xuống còn 1,7%. Trừ các nhà kế hoạch, các nhà thống kê, và phải dùng máy tính, còn người dân không hiểu mình sinh thêm một đứa con thì ảnh hưởng tỷ lệ 1,7% đến mức nào, và tại sao lại 1,7%, mà không 1,8% hoặc 1,5% cho tròn số. Ngay chúng tôi khi bắt tay vào dự thảo chính sách DS-KHHGÐ cũng đặt câu hỏi như vậy. Hóa ra, 1,7% chỉ là tỷ lệ phát triển dân số trung bình của thế giới lúc bấy giờ. Ở nước ta cao hơn thì phấn đấu đạt tỷ lệ trung bình này. Tuy sau ba kỳ Ðại hội Ðảng, từ Ðại hội Ðảng lần thứ IV đến Ðại hội Ðảng lần thứ VII (15 năm), chưa đạt được, chứ nếu đạt được, thì sẽ còn phải giảm xuống bao nhiêu, và giảm đến bao giờ, cũng chưa rõ. Vì vậy, xuất phát từ lý thuyết dân số học, NQ đề ra mục tiêu ổn định quy mô dân số (tỷ lệ phát triển dân số bằng không), nhưng muốn ổn định quy mô dân số thì phải đạt mức sinh thay thế, tức là mỗi cặp vợ chồng chỉ có hai con. NQ ban hành, người không muốn nhiều con thấy mô hình gia đình hai con là có đạo lý và tự giác thực hiện, người muốn nhiều con thì thấy sinh con thứ ba trở lên là "quá tiêu chuẩn", cộng đồng sẽ chê cười. Như vậy, mục tiêu trở thành chỉ tiêu trong nhận thức và tâm lý của mọi người một cách nhẹ nhàng. Không cần có văn bản nào quy định thêm cả.
Cách viết Ðiều 10 của pháp lệnh đã làm giảm hoặc xóa đi sự sâu xa của cách viết mục tiêu thành chỉ tiêu của NQ, giải tỏa tâm lý ngại "vượt tiêu chuẩn" trước đây của những người muốn sinh nhiều con, phát sinh số người sinh con thứ ba trở lên, góp phần làm tăng trở lại tỷ lệ phát triển dân số.
Vì vậy, phải sửa lại điều này, sửa vào lúc nào và sửa như thế nào? Nhân kỳ họp này, chúng tôi đề nghị các đại biểu Quốc hội đặt vấn đề sửa Ðiều 10 của Pháp lệnh Dân số, làm cho toàn dân hiểu là vì lợi ích của đất nước, của dân tộc mà mỗi cặp vợ chồng chỉ nên có hai con. Không khuyến khích một con, nhưng không chấp nhận ba con trở lên. Chính sách DS-KHHGÐ của ta không phải nhằm giảm tỷ lệ phát triển dân số với bất cứ giá nào, nên mặc dù một con thì tỷ lệ phát triển dân số giảm nhanh, nhưng sẽ có một số vấn đề về chất lượng dân số: Một con sẽ bị hội chứng 4-2-1 (4 ông bà nội ngoại, hai bố mẹ và một đứa con) làm cho về thể chất đứa trẻ dễ bị phì nộn, về tinh thần dễ bị ích kỷ, kém chí tiến thủ. Một con trong lúc tâm lý trọng nam khinh nữ, sinh con trai để nối dõi tông đường, khoa học kỹ thuật lại cho phép dễ dàng xác định giới tính của bào thai, nên cân bằng giới tính dễ bị phá vỡ. Ngoài ra một con cũng làm cho mức sinh thấp hơn mức sinh thay thế, dẫn đến già hóa dân số nhanh. Ðó là những điều chúng ta không mong muốn. Còn không chấp nhận ba con bởi vì nếu chấp nhận ba con sẽ vượt mức sinh thay thế, và dân số hiện đã quá cao, rồi cứ tăng mãi không biết đến bao giờ dân số nước ta mới ổn định. Nếu để tình trạng này xảy ra, thì như NQ đã chỉ rõ "trong tương lai không xa đất nước ta sẽ đứng trước những khó khăn rất lớn, thậm chí những nguy cơ về nhiều mặt". Toàn dân chúng ta cần nhận thức sâu sắc nội dung của những câu chữ này để tự giác thực hiện KHHGÐ, thực hiện chính sách hai con là chính sách thích hợp nhất, vừa bảo đảm quy mô, vừa nâng cao chất lượng dân số.
Cách viết Ðiều 10 như trong Pháp lệnh Dân số là "quyền song song với nghĩa vụ", do đó người đọc có thể tách riêng "quyền" và hiểu như là không có giới hạn. Chúng tôi đề nghị viết lại theo tinh thần "quyền trong nghĩa vụ", tức là "quyền" được giới hạn bởi mục tiêu của chính sách DS-KHHGÐ, mà mục tiêu này là vì lợi ích của đất nước, của dân tộc, trong đó có lợi ích của mỗi người, đặc biệt là lợi ích của con cháu chúng ta về lâu dài. Mọi người thường nghĩ Trung Quốc là một nước quá đông dân nên họ phải thực hiện quyết liệt chính sách một con. Nhưng, xét về mật độ dân số, thì Việt Nam "đông hơn gần 2 lần" so với Trung Quốc (Việt Nam là 220, Trung Quốc là 126 người/km2 - số liệu công bố của ESCAP năm 1994). Nói như vậy để thấy việc thực hiện KHHGÐ để giảm dần tỷ lệ phát sinh dân số, tiến tới ổn định quy mô dân số, đối với chúng ta là vô cùng cấp thiết. Nhân dân Việt Nam đã sẵn sàng làm nghĩa vụ quân sự để chống ngoại xâm, chắc chắn cũng sẵn sàng làm nghĩa vụ KHHGÐ để tạo tiền đề, mà là tiền đề rất quan trọng để chống nghèo nàn, lạc hậu cho Tổ quốc Việt Nam. Chúng tôi hoàn toàn tin tưởng như vậy.
Có ý kiến cho rằng sửa lại theo hướng đó thì một số người sẽ cho ta vi phạm nhân quyền. Thực tế không đáng lo. Trong những năm 1993-1994, chúng tôi đã đối mặt nhiều với vấn đề này. Chúng tôi đã tiếp nhiều phóng viên các đài, báo phương Tây, tiếp đại diện của một số Ðại sứ quán hỏi để báo cáo về cho Quốc hội và Chính phủ của họ. Có trường hợp trong chương trình của đoàn nghị sĩ của nước họ sang ta dự kiến có buổi làm việc về chính sách DS-KHHGÐ của Việt Nam, nhưng sau khi nghe Ðại sứ quán của họ báo cáo về cách đặt và giải quyết vấn đề của ta, họ đề nghị thôi không có buổi làm việc với UBQGDS-KHHGÐ nữa. Chung quy chúng tôi chỉ cần nói cho họ hiểu chúng ta về mấy vấn đề sau đây:
Thứ nhất, với đất nước 329.229,19 km2, tài nguyên không nhiều, khí hậu khắc nghiệt, bình quân đầu người chưa được 400 USD/năm, sau tổng điều tra dân số năm 1989, số con trung bình của một phụ nữ gần bốn con, số dân gần 65 triệu, cứ 30 năm tăng gấp đôi, đến mức một trong những dự báo của LHQ đăng tải năm 1990 dự đoán đến năm 2025 dân số Việt Nam là 156 triệu người, và chưa thấy điểm dừng. Trung Quốc đang thi hành gắt gao chính sách một con vì dân số quá đông, nhưng về mật độ dân số thì Việt Nam "đông hơn gần hai lần" so với Trung Quốc. Cho nên KHHGÐ để giảm tỷ lệ phát triển dân số, tiến tới ổn định quy mô dân số là vô cùng cấp bách đối với Việt Nam. Chúng tôi nhận thức vấn đề KHHGÐ khá sớm nhưng làm chưa đạt kết quả, đến nay phải đẩy mạnh cuộc vận động này. Tuy vậy, chính sách của chúng tôi là hai con (mức sinh thay thế). Không vì muốn giảm nhanh tỷ lệ phát triển dân số mà đưa ra chính sách một con, trái lại chúng tôi không khuyến khích một con. Khẩu hiệu của chúng tôi là "dừng ở hai con để nuôi và dạy cho tốt".
Thứ hai, văn bản hoàn chỉnh nhất về chính sách DS-KHHGÐ của Việt Nam được thể hiện trong NQ T.Ư 4 (khóa VII) của Ðảng CS Việt Nam. Các văn bản về vấn đề này trước đó nếu không phù hợp với tinh thần và nội dung của NQ coi như không còn giá trị.
Thứ ba, về cách xử lý vi phạm thì chúng tôi phân biệt như sau:
a - Việc bắt buộc đảng viên thi hành chính sách của Ðảng là đương nhiên, bất cứ đảng nào cũng làm như vậy, huống hồ đảng ta là đảng cầm quyền.
b - Ðối với công chức, viên chức nhà nước cũng phải thi hành chính sách của Ðảng. Ðiều 4 Hiến pháp CHXHCN Việt Nam ghi rõ Ðảng CS Việt Nam là đảng lãnh đạo đất nước. Ðảng lãnh đạo thông qua bộ máy Nhà nước. Nước ta có nhiều thành phần kinh tế, không bắt buộc ai cũng phải làm cho Nhà nước, nhưng đã tự nguyện làm cho Nhà nước thì bắt buộc phải thi hành chính sách của Nhà nước, cũng là chính sách của Ðảng.
c - Ðối với người dân thì việc xử lý là dựa trên các quy ước của cộng đồng. Hình thức xử lý có thể về tinh thần nhưng cũng có thể về vật chất. Chúng ta không gọi là phạt mà gọi là đóng góp bắt buộc. Phạt là vì có tội, mà chính sách DS-KHHGÐ của chúng ta không đặt vấn đề công-tội trong sinh đẻ nên không có vấn đề thưởng-phạt. Còn đóng góp bắt buộc là để củng cố trạm y tế, mở rộng trường lớp từ nhà trẻ, mẫu giáo đến tiểu học ngay trên địa bàn để phục vụ cho chính đứa con họ sinh vượt mức sinh thay thế. Tất cả những vấn đề này đều được đưa ra bàn ở cộng đồng khi xây dựng quy ước. Quá trình xây dựng quy ước là quá trình nâng cao nhận thức và tạo áp lực về tâm lý để mọi người thi hành chính sách. Nói là áp lực, nhưng không có ai áp đặt cả. Ðây là áp lực tự tạo, tự hình thành trong tâm lý của từng người, vì không ai muốn mình là người "lạc hậu". Cho nên trong thực tế số người vi phạm là rất ít, có thể nói là không đáng kể.
Từ tháng 9-1994, sau phát biểu của đoàn ta tại Diễn đàn của Hội nghị dân số thế giới ở Cai-rô (Ai Cập) và trả lời nhiều phóng viên báo đài các nước đến hội nghị, chúng tôi không phải tiếp thêm đoàn nào thắc mắc về chính sách DS-KHHGÐ của Việt Nam nữa. Không phải ngẫu nhiên mà năm 1999, không chờ kết quả Tổng điều tra dân số 1-4-1999, LHQ trao Giải thưởng về DS-KHHGÐ cho Ủy ban Quốc gia DS-KHHGÐ của Việt Nam. Giải thưởng này là sự đánh giá kết quả, đồng thời cũng là sự công nhận cách làm DS-KHHGÐ của nước ta. Vì Ủy ban xét giải thưởng của LHQ bao gồm Tổng thư ký LHQ, Giám đốc điều hành Quỹ Dân số LHQ và đại biểu của một số nước thành viên LHQ, với nhiều xu hướng chính trị khác nhau, do Hội đồng Kinh tế và Xã hội của LHQ đề cử.
Chính sách DS-KHHGÐ của nước ta là vì đạo lý, và cách làm của chúng ta là có đạo lý. Chúng ta vững tâm thực hiện điều đã được ghi trong Nghị quyết T.Ư 4 (Khóa VII) "có những chính sách, giải pháp mạnh mẽ, được thể chế hóa thành các văn bản pháp quy".
Năm 1994, thấy công tác DS-KHHGÐ có bước khởi sắc, đồng chí Phạm Văn Ðồng, người đã khởi xướng cuộc vận động sinh đẻ có hướng dẫn, và là Trưởng ban sinh đẻ kế hoạch đầu tiên của nước ta, đã viết bài "Văn hóa với DS-KHHGÐ": (đăng trên tạp chí Tác phẩm mới và nhiều báo khác). Bài báo có đoạn: "Nếu từ ngày thành lập nước Việt Nam mới đến nay, dân số nước ta không tăng lên như đã diễn ra nghĩa là hơn ba lần, nếu hiện nay dân số nước ta chỉ khoảng 50 triệu người hay ít hơn nữa thì biết bao vấn đề trọng đại về kinh tế, văn hóa và xã hội có thể giải quyết thuận lợi hơn nhiều". Sau khi phê phán việc tiến hành công tác DS-KHHGÐ trước đây quá giản đơn, kém hiệu quả, đồng chí đã viết "chúng ta đã trả giá rất đắt vì sự sai lầm nghiêm trọng rất đáng chê trách này".
Vì vậy chúng tôi nghĩ rằng, tất cả chúng ta, từ người dân đến các cấp lãnh đạo quyết tâm thực hiện điều đã được nêu trong bài báo là "kịp thời sửa chữa những chỗ hư hỏng hoặc thiếu sót". Chúng tôi rất tâm đắc hai chữ "kịp thời". Hai chữ này rất hay, rất thời sự với chúng ta hiện nay. Chúng ta quyết không để tiếp tục đánh mất thời gian hơn nữa trong công tác DS-KHHGÐ.
GS MAI KỶ
Nguyên Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban
Dân số và Kế hoạch hóa gia đình