Rời bến Cái Bèo thuộc huyện đảo Cát Bà lúc bình minh, chiếc thuyền nan của ngư dân tên là Minh tăng ga, chạy hết tốc lực cũng mất hơn 45 phút mới đưa chúng tôi có mặt tại Trạm nghiên cứu nuôi trồng thủy sản nước mặn Cát Bà thuộc Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản 1.
Nhìn từ xa, Trạm không khác gì những bè, lồng nuôi hải sản của ngư dân, nhưng nơi đây, diện tích lồng, bè cỡ lớn, rộng gấp hàng chục lần so với các lồng, bè khác. Và cái đặc biệt ở đây là không nuôi để kinh doanh, cũng không phải nhà hàng mà là nơi nghiên cứu, phát triển nuôi trồng thủy sản nước mặn.
Từ quy trình chăm sóc...
Đón chúng tôi, anh Thìn, trưởng Trạm nghiên cứu, người có thời gian làm việc ở Trạm lâu năm, hồ hởi dẫn mọi người đi trên những thanh gỗ chòng chành của biển cả để tận mắt ngắm nhìn từng lồng, bè cá, hàu, tu hài ... Cầm trên tay xô cá, anh đưa chúng tôi đến những lồng được bịt kín bằng lưới mắt cáo rất cẩn thận nằm phía cuối khu vực lồng, bè của Trạm.
- Vì sao nhiều lồng, bè vẫn để hở lưới bằng miệng cái bát tô, còn mấy lồng này phải cột lưới bịt chặt miệng lồng vậy? Tôi hỏi.
- Anh Thìn chỉ tay nói: “Những lồng, bè đầu kia để hở được như vậy một phần cá giống trong lồng có kích thước nhỏ, bé và để hở giúp anh em thuận tiện cho ăn, chăm sóc vệ sinh, còn mấy lồng này thuộc diện chăm sóc, bảo vệ đặc biệt nên phải cột dây lưới thật chắc chắn, cẩn thận không gì nhưng con cá giống bố mẹ gìn giữ nguồn gen gốc như cá giò, cá song (cá mú) nặng từ 30 đến 60kg nó quẫy, phá rách lưới, lao ra ngoài dễ bị tổn thương, dẫn đến chết.
Sau hơn 10 phút mở dây buộc lưới, anh Thìn mở hé miệng lồng, ném những con cá trích còn tươi xuống. Chưa đầy hai phút, hàng chục con cá bố, mẹ to bằng miệng xô to, lừng lững bơi lên đớp thức ăn, rồi lại lặn xuống dưới làn nước biển xanh ngắt. Cữ như vậy đến khi ăn no, những con cá bố mẹ gần như ít nổi lên mặt nước, kể cả khi cho thức ăn xuống.
Thời tiết những ngày giáp Tết rất lạnh. Trạm lại nằm heo hút ngoài biển khơi mênh mông, gió biển thổi lồng lộng rét buốt. Ở trên lồng, bè của Trạm mới thấu hiểu hết khó khăn, vất vả với những công việc “thầm lặng”, tưởng chừng giản đơn của cán bộ, kỹ sư nuôi trồng thủy sản.
Cái giá lạnh của mùa đông không làm họ lo lắng, nản lòng, nhưng những người kỹ sư ở đây thực sự lo lắng, quan tâm khi thời tiết chuyển sang mùa đông. Đây là thời điểm khó khăn nhất trong quy trình chăm sóc, nuôi cá giống. Có những hôm nhiệt độ hạ thấp, anh em ở Trạm phải thay nhau trực thâu đêm, để kiểm tra nhiệt độ của nước, độ mặn, độ pH ... Mùa đông, độ mặn của nước biển tăng lên là thời điểm thuận lợi để những con ký sinh trùng bám vào cá, vì vậy anh em phải vệ sinh định kỳ lồng, bè 20 ngày một lần để tránh hàu hà, rong rêu bám vào làm hạn chế dòng chảy và dễ phát sinh dịch, bệnh.
Thời tiết mùa đông cá rất kém ăn, nhất là những loại cá giống có trọng lượng lớn, do đó ngoài thời gian nuôi vỗ thì còn phải chia ra cho ăn bổ sung thêm các chất dinh dưỡng, khoáng chất, vi-ta-min và các loại chất lượng cao như cua, ghẹ...để có sức đề kháng bệnh dịch. Phức tạp nhất là những con cá giống bố mẹ từ 20 kg đến 60 kg rất nhạy cảm với biến đổi của thời tiết và rất dễ dịch bệnh do ký sinh trùng tiến công. “Nếu không có phương án chăm sóc kịp thời, thích hợp, cá sẽ bị bệnh lở loét, bỏ ăn và chết. Thiệt hại không thể tính được” - Anh Cao Văn Hạnh, trưởng Trạm nghiên cứu thủy sản nước lợ giải thích.
Trạm nghiên cứu nuôi trồng thủy sản nước mặn Cát Bà hiện nuôi hơn 10 tấn thủy hải sản, trong đó có cá giống các loại có giá trị kinh tế cao như cá song (song vua, song chấm nâu, song chanh, song chuội, song hổ), cá giò, cá hồng Mỹ, hồng vân bạc, cá vược, cá chim vây vàng và nhuyễn thể (tu hµi, vÑm, bµo ng...) tôm sú, rong biển. Hiện Trạm có ba con cá song vua, mỗi con khoảng 60kg, 160 con trên 30kg... Theo thông tin của anh Thìn, qua một thời gian nghiên cứu, xây dựng quy trình công nghệ sản xuất giống, đề tài nuôi thương phẩm, đối tượng hoàn toàn mới đó là con hàu Thái Bình Dương được nhập về từ Úc. Sau khi triển khai được một năm đã sản xuất thành công được con giống và nhân giống nuôi hơn 50 triệu con hàu, chuẩn bị chuyển giao cho các hộ ngư dân sản xuất, nuôi trồng tại Cát Bà và Quảng Ninh.
...đến công đoạn “tắm cá”
Chín giờ sáng. Thời tiết nơi đây ấm dần lên khi những tia nắng của ngày mới tỏa khắp vịnh Lan Hạ. Trên lồng, bè của Trạm đón những ánh mặt trời chiếu xuống sưởi ấm giúp những đàn cá giống nổi lên bơi lượn. Đây cũng là thời điểm bắt đầu của hơn 10 anh em cán bộ nơi đây bắt tay triển khai từng công đoạn chăm sóc, vệ sinh từng loại cá.
Anh Thanh Phúc với Thân Văn Sơn đưa chúng tôi tới lồng nuôi cá song chấm nâu có trọng lượng 10 đến 20 kg. Phúc vừa kéo để thay lưới mới, vừa nói: “Để thực hiện vệ sinh, tắm cho cá, phải tiến hành theo một quy trình khoảng 60 phút (tuy loại cá to, hay nhỏ).”
Bước đầu tiên phải kéo những củ neo ở những lồng, bè lên và dùng dao cạo sạch những con hà bám vào đặc kín. Sau khi làm sạch những củ neo, hai người phải phối hợp cùng anh em khác kéo thay lưới cũ đã bị hà bám chặt vào các mắt lưới, bằng một tấm lưới mới, sạch sẽ.
Tuy nhiên công đoạn mà theo các anh nói quan trọng và hết sức khó khăn nhất là tắm cho cá. Tắm cá phải thực hiện theo quy trình khép kín, nhanh, nếu tắm quá lâu cá sẽ thiếu ô-xy, dễ dẫn đến bị chết. Sau khi thay lưới sạch, anh em kỹ sư dùng một tấm bạt bằng diện tích lồng, rồi để bạt nằm chùng xuống trên mặt lồng và bơm nước ngọt vào đó. Lượng nước bơm vào đủ tắm, dùng vợt múc những con cá giống vào tấm bạt; rồi lấy vòi nước ngọt xịt vào con cá để những ký sinh trùng rơi ra, không còn bám vào cá giống. Sau khoảng 15 phút phải thả cá lại lồng, bè.
- Tại sao phải dùng nước ngọt để tắm, xịt cho cá biển? Tôi hỏi?
Anh Nguyễn Đức Tuấn, kĩ sư nuôi trồng thủy sản cho biết: “Tất cả cá giống ở đây sống trong môi trường nước biển với độ mặn khoảng 32 phần nghìn. Do vậy để muốn tách các loại ký sinh bám vào cá thì phải dùng nước ngọt để xịt vào những sinh vật nước mặn đó. Một phần những sinh vật bám vào cá không chịu được nước ngọt làm cho nó nhanh rớt ra và theo kinh nghiệm nghề nghiệp, cá nước mặn thì phải tắm nước ngọt; cá nước ngọt thì phải tắm nước mặn.”
- Trước khi tắm cho cá giống bố mẹ “ngoại cỡ” từ 30-60 kg thì phải để đói vài ngày và phải có ý kiến của cấp trên đồng ý?
- Để nuôi được một con cá giống bố mẹ “ngoại cỡ” mất thời gian rất lâu, khó khăn và hết sức tốn kém, nên quy trình từ chăm sóc cho ăn, vệ sinh, tắm cho những con cá bố mẹ từ 30-60 kg hết sức phức tạp, rất dễ bị thương, bỏ ăn những ngày sau đó và bị chết. Do đó, khi “tắm cá” đều được lên lịch cụ thể và thời gian tắm từ ba đến năm tháng một lần, khoảng 10 phút, vào những ngày thời tiết ấm.
Theo quy định, trước khi tắm cho cá, trước đó cá không được cho ăn, để cá ít quẫy và phải dùng ròng rọc, hoặc tời kéo lên vì trọng lượng quá nặng, cá quẫy rất mạnh khó có thể kiểm soát nó, nếu không cẩn thận rất dễ cá lao ra khỏi lồng. Nếu quy trình tắm không cẩn thận sẽ ảnh hưởng đến sinh sản và độ thành thục sau này của cá giống bố mẹ.
Theo anh Tuấn, công đoạn tắm cho những con cá giống bé thương phẩm để phục vụ cho thị trường và nghiên cứu thì phương pháp tắm đơn giản, sử sụng thuốc kháng sinh và nước ngọt để tách ký sinh trùng trong thời gian phải nhanh, ngắn hơn, còn cá bố mẹ thì có thể tắm lâu hơn một chút. Khi mùa đông đến, cá thường phát sinh bệnh dịch như biểu hiện cá kém ăn, nổi lờ đờ trên mặt nước. Nếu phát hiện cá bị lở loét do ký sinh trùng thì cán bộ, kỹ thuật phải dùng một số kháng sinh như ô-xy xta-xi-lin dùng để hòa vào nước tắm khoảng 20-30 phút, làm cho ký sinh trùng rơi ra và chết. Sau đó mới thả cá trở lại lồng.
Lênh đênh trên biển
Nói về nghề thì không ai phàn nàn gì về vất vả, khó khăn nhưng tâm trạng chung mà chúng tôi cảm nhận được từ những người cán bộ đã, đang sống ở Trạm đó chính là nỗi nhớ con, nhớ gia đình.
Anh Trần Văn Tường, quê ở Từ Sơn, Bắc Ninh, thâm niên làm ở Trạm được bốn năm, vừa lái tàu chở chúng tôi tâm sự: Cuộc sống ở ngoài biển đảo so với đất liền đã thấy được khó khăn rồi. Nhưng có lẽ cái khó khăn, thiếu thốn nhất đó là thiếu rau xanh và nước ngọt (nước ngọt có giá 50 nghìn đồng/khối). Ở đây ngoài thời gian chăm sóc cho cá thì không có gì vui chơi, giải trí. Giao thông đi lại khó khăn, cách trở nên khoảng 3-4 tháng mới sắp xếp về thăm vợ con ở quê được một lần. Để lên bờ về quê, 10 người ở đây phải luân phiên thay nhau nhưng quân số trực tại Trạm lúc nào cũng phải có ít nhất là tám người.
Vừa tốt nghiệp ngành thủy sản trường Đại học Nông nghiệp, chưa lập gia đình, Thân Văn Sơn quê ở Can Lộc (Hà Tĩnh), mới có thâm niên vừa tròn ba tháng làm ở Trạm nên khá rụt rè hơn so với những người đồng nghiệp của mình. Sơn cho hay: “Trước đây, em có ra thực tập và thực hiện đề tài Điều tra nuôi tu hài thương phẩm tại Trạm. Sau khi thực tập, thấy nơi đây có gì đó cuốn hút, cộng với sự đam mê, yêu thích nghề nuôi trồng thủy sản nên ra trường em quyết định xin về đây thử việc. Vừa mới ra làm nên em chưa có ý định về thăm quê. Tuy nhiên, việc đi lại luôn là thử thách đối với chúng em.”
Mặc dù khó khăn, thiếu thốn hay vì sự cuốn hút của công việc, nghề nghiệp như Tường và Sơn đã tâm sự, nhưng để được tuyển chọn, đầu quân vào danh sách “sống lênh đênh trên biển”, ở Trạm không dễ chút nào. Ngoài tấm bằng chuyên môn ra, họ còn phải đạt đủ những yêu cầu tối thiều mà nghề này đặt ra là “ba phải”: “Phải biết bơi, biết lái thuyền và ... phải biết uống rượu.”
Tôi đem thắc mắc về “ba phải” này để hỏi anh Trần Thế Mưu, Giám đốc Trung tâm giống quốc gia giống hải miền bắc (NACMAN), được anh chia sẻ: “Thực ra sống, làm việc ở Trạm hết sức khó khăn, khắc nghiệt vì Trạm nằm lênh đênh, lẻ loi giữa biển cả, mênh mông. Do đó, những yêu cầu như biết bơi, lái thuyền cũng chỉ là nhằm hỗ trợ thêm công tác chuyên môn tốt hơn. Còn việc biết uống rượu để giúp anh em “rèn luyện”, quen và thích nghi với sóng gió, dập dềnh của biển cả, nhất là những lúc biển động, bão gió...”
Chiều muộn, chúng tôi chia tay mọi người. Chia tay những hòn đảo đẹp như tranh vẽ của vịnh Lan Hạ.
Trên con tàu trở về đất liền, gió biển thổi se lạnh, lòng người thấy nôn nao khi thời gian của những ngày Tết đến rất gần. Câu chuyện với Tường đang dở dang, tiếng còi tàu báo hiệu cập bến. Chúng tôi vội vàng vác ba lô lên bến Cái Bèo, ngoái đầu nhìn lại thì con tàu Tường lái chở chúng tôi đã chạy ra khơi xa.
Lại một lần nữa, Tường - người lái tàu chỉ cập bến nhưng không kịp thời gian lên bờ. Có một điều mà tôi cảm nhận được ở những cán bộ, kỹ sư ở Trạm đó chính là lòng yêu nghề, và trên tất cả là vì nghề nghiệp, vì công việc.