Tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước trong quân đội (Kỳ 1)

Bài 1: Công cuộc “khai sơn, phá thạch” -

Sau một thời gian dài Quân đội (QĐ) tham gia thực hiện các nhiệm vụ sản xuất, xây dựng kinh tế theo chủ trương của Đảng, Nhà nước, Quân ủy T.Ư và Bộ Quốc phòng đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo đẩy mạnh đổi mới, sắp xếp, tái cấu trúc các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) trong QĐ cho phù hợp yêu cầu, nhiệm vụ quân sự, quốc phòng (QS, QP) trong tình hình mới.

Tổng công ty Tân Cảng Sài Gòn (Bộ Quốc phòng) khai thác dịch vụ công-ten-nơ tại Cảng Cát Lái.
Tổng công ty Tân Cảng Sài Gòn (Bộ Quốc phòng) khai thác dịch vụ công-ten-nơ tại Cảng Cát Lái.

Thách thức mới với những người anh hùng

Cho đến bây giờ, Thượng tá Trần Vũ Tuyên, Giám đốc và Đại tá Mai Ngọc Kiên, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐQT Công ty CP Xây dựng 565 (đứng chân tại tỉnh Hòa Bình), vẫn nhớ về một quá khứ hào hùng. Ra đời ngày 19-5-1965, Đoàn 565 chiến đấu trên khắp các chiến trường sáu tỉnh miền trung, Hạ Lào và bảo vệ hành lang tuyến đường 559. Năm 1976, đơn vị chuyển sang làm nhiệm vụ xây dựng kinh tế kết hợp quốc phòng: khai thác gỗ và trồng rừng ở Quảng Bình, rồi làm chuyên gia quân sự giúp nước bạn Lào làm đường. Năm 1979, Thủy điện Hòa Bình có lúc có tới 40 nghìn người Việt Nam và chuyên gia Liên Xô làm việc, đã chứng kiến thời kỳ hoàng kim của Đoàn 565 (1980-1994), lúc cao điểm có tới 3.500 cán bộ, chiến sĩ trên đại công trường, từng ghi dấu với: Tổ hợp công trình chống thấm Trại Nhãn; Tuyến năng lượng, Công trình cơ sở nhà du lịch thợ lặn - Nhà máy Thủy điện Hòa Bình, lập kỷ lục khoan đào hầm đạt 42 m/tháng, rồi 56 m/tháng ở những hạng mục vô cùng khó khăn. Khi Thủy điện Hòa Bình hoàn thành cũng là lúc đơn vị được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động.

Cùng với thủy điện, đơn vị cũng đã thành danh trong các lĩnh vực thủy lợi, giao thông… với các công trình đường Hồ Chí Minh, quốc lộ 6… Thực hiện chỉ đạo của Quân ủy T.Ư, Bộ Quốc phòng, tháng 1-2007, Công ty Xây dựng 565 tiến hành cổ phần hóa (CPH). Nhưng từ đây, những khó khăn mới bắt đầu bộc lộ, thách thức những người anh hùng một thời: Một số người có trình độ và tay nghề cao đã chuyển đơn vị khác; một số khác mất động lực phấn đấu vì “hậu CPH” chỉ còn ba chức danh giám đốc, bí thư đảng ủy và kế toán trưởng là sĩ quan quân đội, đại diện vốn nhà nước. “Từ chỗ có 450 người vào quý I-2007, đến năm 2016 còn chưa đầy 100 người” - Giám đốc Trần Vũ Tuyên cho biết. “Với năng lực cạnh tranh thấp, mất cân đối vốn chủ sở hữu, nợ bảo hiểm, nợ thuế, nợ ngân hàng, nợ đối tác, nợ lương người lao động lớn, khả năng tồn tại của DN hết sức khó khăn” - Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐQT Mai Ngọc Kiên thừa nhận. Có thể nói, đơn vị Anh hùng “đánh đông dẹp bắc” một thời đã “mắc cạn” bởi những bỡ ngỡ và cả yếu kém trong quản lý kinh tế. Đến năm 2015, lãnh đạo Binh đoàn 12 phải điều ngược đồng chí Kiên và đồng chí Tuyên - những cựu sĩ quan của Công ty CP Xây dựng 565 đã chuyển sang đơn vị khác sau CPH - trở về xốc lại đội hình cùng với các giải pháp hỗ trợ vốn, nhân lực quản lý, tạo việc làm đồng bộ…

Câu chuyện thăng trầm Công ty CP Xây dựng 565 là khá điển hình cho một thời kỳ. Trên thực tế, năm 1976, Quân ủy T.Ư, Bộ Quốc phòng điều chuyển gần 280 nghìn quân thường trực sang làm nhiệm vụ sản xuất, xây dựng kinh tế (SX, XDKT), lấy Bộ đội Trường Sơn làm nòng cốt, số còn lại là lực lượng các tổng cục, quân khu; tổ chức thành năm binh đoàn và 12 trung đoàn. Những người lính “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” năm xưa bắt tay vào công cuộc “khai sơn, phá thạch”, thực hiện các nhiệm vụ: Xây dựng các khu kinh tế - quốc phòng (KT, QP), nâng cao đời sống nhân dân, bảo đảm quốc phòng, an ninh biên giới; khai thác năng lực các đơn vị thường trực để vừa tái đầu tư, tăng tiềm lực quốc phòng vừa bảo đảm thực hiện chính sách hậu phương, quân đội; tổ chức các đơn vị làm kinh tế gắn kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế. Và các công, nông, lâm trường, đơn vị xây dựng đường, cầu, sân bay, bến cảng (Binh đoàn 12); doanh trại, nhà ở, bệnh viện (Binh đoàn 11); thủy điện, thủy lợi (các Sư đoàn: 319, 565, 665); cùng các đơn vị đứng chân trên các khu vực phòng thủ... đã ra đời.

“Thời “nhà nhà đi buôn, người người làm than”, Thủ tướng Võ Văn Kiệt có lần đi trực thăng nhìn xuống tỉnh Quảng Ninh bức xúc khi thấy chỗ nào cũng đào loang lổ. Và thế là khởi đầu cuộc sắp xếp lần thứ nhất sau các Quyết định 381, Quyết định 382, đưa các đơn vị quân đội đang khai thác than “năm cha ba mẹ” từ các quân khu, quân, binh chủng về một mái nhà gồm hai chủ: Tập đoàn Công nghiệp than - khoáng sản Việt Nam (TKV) quản lý về sản xuất, kinh doanh; Bộ Quốc phòng quản lý về con người” - Đại tá Phạm Hải Quang, Bí thư Đảng ủy, Phó Tổng Giám đốc Tổng công ty (TCT) Đông Bắc nhớ lại. Trung tướng Phan Thu, Thứ trưởng Quốc phòng hồi đó từng nói: “Không phải là Công ty than Đông Bắc mà phải gọi là Công ty Đông Bắc”. Sâu xa ở chỗ, than có thể là trước mắt, nhưng cái tên Đông Bắc phải lâu dài, gắn với thực hiện nhiệm vụ QS, QP ở địa bàn chiến lược. Với tổng số cán bộ, công nhân viên quốc phòng, người lao động lên tới hơn 12.000 người, thời bình TCT Đông Bắc vừa sản xuất, kinh doanh (SX, KD) vừa duy trì hoạt động huấn luyện, diễn tập cho hai Lữ đoàn dự bị động viên 596 và 598, cùng 13 trung đội tự vệ, sẵn sàng tham gia chiến đấu, bảo đảm công binh cho các đơn vị khi có tình huống xảy ra.

Trong ấn tượng của Đại tá Phạm Hải Quang, khi TCT Đông Bắc tái cấu trúc, tách ra khỏi TKV vào năm 2014, các đồng chí lão thành ngành than, lãnh đạo tỉnh Quảng Ninh không khỏi lo lắng. Ra ở riêng đã “đủ lông đủ cánh” chưa, có “bơi”, có “sống” được không? Quan hệ đối tác, cạnh tranh với “người khổng lồ” TKV như thế nào, với địa phương ra sao? Từ quy hoạch ngành than theo Quyết định 60 trước kia cho tới Quyết định 403 (tháng 3-2016), chỉ hai năm sau khi tách khỏi TKV, TCT Đông Bắc đã chiếm tỷ lệ 17% trữ lượng khai thác, hằng năm duy trì từ 10 đến 13% sản lượng than sản xuất, tiêu thụ toàn ngành, góp phần bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia.

Thành công của các DNNN trong QĐ còn được khẳng định bằng hàng loạt công trình như: Đường tàu Thống nhất Bắc - Nam, đường Trường Sơn Đông, đường 279 dài hơn 1.100 km nối liền sáu tỉnh biên giới phía bắc; khai hoang, trồng rừng, cây công nghiệp ở Tây Nguyên, cực Nam Trung Bộ; khai hoang phục hóa ở Đông Nam Bộ, Đồng Tháp Mười; quai đê lấn biển mở rộng đất trồng lúa, cói, nuôi trồng thủy sản ở đồng bằng Bắc Bộ; khai khoáng ở Quảng Ninh, Lạng Sơn… Trong chiến tranh biên giới Tây Nam và biên giới phía bắc, các công trường, nhà máy, nông, lâm trường QĐ lập tức trở thành những đơn vị chiến đấu ngay từ trận đầu, ngày đầu, tuyến đầu.

Một thời gian dài, các DNNN trong QĐ hoạt động SX, KD theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, mệnh lệnh quân sự “trên bảo dưới phải nghe” đã không còn phù hợp. Từ khi đất nước bước vào đổi mới (năm 1986), các nhà máy, xí nghiệp, công, nông, lâm trường QĐ chuyển sang hạch toán kinh tế, hoạt động theo cơ chế thị trường. Xóa bỏ bao cấp, thị trường và thời gian là phép thử nghiệt ngã để loại bỏ những “cơ thể” yếu kém và kiểm chứng các mô hình, thương hiệu. Tổng kết 15 năm sắp xếp, tái cấu trúc DNNN trong QĐ, đã có nhiều “học phí” phải trả, nhiều DN làm ăn thua lỗ, mất kiểm soát tài chính,… tuy nhiên đã xuất hiện một số điểm sáng.

Cú huých sắp xếp, tái cấu trúc

Quá trình sắp xếp, tái cấu trúc DNNN trong QĐ nổi lên một đặc điểm quan trọng: Hiệu quả kinh tế không được tách rời mục tiêu tổ chức lực lượng và thực hiện nhiệm vụ QS, QP. Đơn vị này không chỉ làm kinh tế đơn thuần mà là tham gia hoạt động sản xuất, kinh tế, góp phần xây dựng lực lượng, bảo vệ Tổ quốc. Hiện, TCT Tân Cảng Sài Gòn chiếm tới 80% thị phần trong nước, 50% thị phần nước ngoài qua cảng…, là một kỳ tích cả về kinh tế và quốc phòng. TCT Sông Thu, ngày thường vẫn bảo đảm đóng tàu dân sự cho Hà Lan, các Tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất… nhưng khi xảy ra sự kiện giàn khoan Hải Dương 981, lập tức chuyển sang thực hiện nhiệm vụ QS, QP. Binh đoàn 15 đứng chân ở Tây Nguyên, hiện tại giá mủ cao-su giảm là câu chuyện thị trường trồi sụt, song giữ đất, giữ dân, xóa đói, giảm nghèo, ổn định dân cư là nhiệm vụ không thể coi nhẹ...

Thiếu tướng Trần Trung Tín, nguyên Cục trưởng Kinh tế (Bộ Quốc phòng), Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp quân đội cho rằng: Giai đoạn đầu mới giải phóng chưa đặt vấn đề hiệu quả kinh tế nhiều, vai trò của DNNN trong QĐ chưa rõ rệt, nhưng sau đó cũng đã góp phần tạo nên những khu KT, QP, khu dân cư trù phú. DNNN trong QĐ dưới hình thức công, nông, lâm trường, nhà máy, xí nghiệp làm nhiệm vụ SX, XDKT, sẵn sàng phục vụ chiến đấu, cho nên có đội ngũ người lao động nhiều thế hệ gắn bó từ khi xí nghiệp, nhà máy mới thành lập… Thời kỳ kinh tế thị trường, thực hiện tái cấu trúc, đã vấp phải rất nhiều khó khăn: Tư tưởng bao cấp dựa vào QĐ không ít; khó tiếp cận vốn ngân hàng cho các DN sau CPH; phát hành cổ phiếu lần đầu, thoái vốn ở các CTCP khó do thiếu sức hút với nhà đầu tư; giải thể DN, kéo dài do nợ khó đòi, lỗ lũy kế, thanh lý tài sản gắn với đất quốc phòng phức tạp… Những đặc điểm trên chi phối rất lớn đến tái cấu trúc DNNN trong QĐ sau này.

Nghị quyết T.Ư 3 (khóa IX) như một cú huých trong sắp xếp, đổi mới, phát triển DNNN giai đoạn 2001-2010. Hội nghị T.Ư 9 (khóa IX) chủ trương đẩy nhanh tiến độ CPH và mở rộng diện các DNNN CPH. Kết luận 50 của Hội nghị T.Ư 6 (khóa XI) khẳng định: DNNN là lực lượng nòng cốt của kinh tế nhà nước, là công cụ hỗ trợ để Nhà nước điều tiết, ổn định kinh tế vĩ mô… Đây thật sự là những “cây gậy” để Quân ủy T.Ư, Bộ Quốc phòng chỉ đạo quyết liệt việc tái cấu trúc các DNNN trong QĐ.

Trước năm 2012, Bộ Quốc phòng đã điều chỉnh cơ cấu, loại hình, quy mô DN để phục vụ ngành then chốt như: Khối các DN sản xuất, sửa chữa vũ khí trang bị, vật tư bảo đảm ở các nhà máy X, Z của Tổng cục Công nghiệp quốc phòng, Tổng cục Kỹ thuật, Quân chủng Phòng không - Không quân…; khối DN đứng chân trên địa bàn chiến lược, thí dụ như Binh đoàn 15...; khối DN cung cấp sản phẩm lưỡng dụng: Xây dựng, viễn thông, cảng biển, bay dịch vụ, khai khoáng... Từ năm 2002 đến 2013, Bộ Quốc phòng đã trình Thủ tướng bốn đề án tổng thể sắp xếp DNNN trong QĐ, được Thủ tướng phê duyệt, tập trung vào đổi mới cơ chế quản lý DNNN trong QĐ theo hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm, hạch toán theo kinh tế thị trường; QĐ giữ lại những DN lưỡng dụng, vừa sản xuất kinh tế vừa sản xuất quốc phòng, khi cần chuyển sang phục vụ chiến đấu. Sáp nhập, giải thể những DN yếu kém để tập trung vào các ngành, lĩnh vực then chốt mà Bộ Quốc phòng có thế mạnh.

Thiếu tướng Võ Hồng Thắng, Cục trưởng Cục Kinh tế - Bộ Quốc phòng cân nhắc khi đánh giá: “Nói cho công bằng, 70% DN tái cấu trúc tốt. 30% DN chưa tốt. Nhóm tốt, tiêu biểu như: Viettel, Tân Cảng Sài Gòn, Bay trực thăng, TCT Đông Bắc, Công ty CP Phú Tài, Công ty CP Xây lắp Thành An 96… Chưa tốt có Công ty 389, Công ty 369, Công ty CP Xây dựng 565…, đang gặp rất nhiều khó khăn. Một số DN xây dựng, thương mại có hệ số nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu lớn gấp ba lần, tới bảy lần, mười lần cũng có, dễ mất cân đối trong thanh toán”. Song, chính từ cạnh tranh khốc liệt đã xuất hiện những thương hiệu toàn cầu như: Viettel (trong lĩnh vực viễn thông, CNTT…); Tân Cảng Sài Gòn (cảng biển, logistics…); MB (ngân hàng)… góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, đẩy mạnh hợp tác, đầu tư ra nước ngoài, thúc đẩy đối ngoại kinh tế, đối ngoại quốc phòng.
Hội nhập và quá trình tái cấu trúc DNNN trong QĐ đã thắp lên niềm tự hào với những thương hiệu giá trị, nơi mà ở đó, lời nhắc “chúng tôi là chiến sĩ” vẫn vang lên như một tài sản vô hình. Nhưng có những người, mỗi dịp 22-12 đến lại vừa vui, vừa buồn. “Danh hiệu Anh hùng là niềm tự hào có từ quá khứ. Hiện tại khó khăn, nghĩ cũng xót xa lắm! CPH xong, công ty chỉ còn vài người mặc áo lính. Kinh tế thị trường cũng làm mất đi một môi trường truyền thống” - Đại tá Mai Ngọc Kiên nói. Còn với Thượng tá Trần Vũ Tuyên, những lời chúc mừng ông nhận “ghế nóng” ở Công ty CP xây dựng 565 cũng là lời gửi gắm của các cựu chiến binh Đoàn 565. “Biết tôi được điều về đơn vị cũ làm Giám đốc, anh em cũ gặp chúc mừng, động viên. Tôi cũng lo lắng lắm, mong cùng đơn vị từng bước ổn định, khôi phục truyền thống xưa. Đến thời điểm này, công ty mới lo được lương cho anh em quý I, hiện đang cân đối lương quý II…” - Thượng tá Tuyên chia sẻ.

Thượng tướng Lê Hữu Đức, nguyên Thứ trưởng Quốc phòng khi phát biểu tại Quốc hội sáng 3-11-2015 cho biết: Từ chỗ còn 300 DN quốc phòng, đã thu về còn 75 đầu mối. DN quân đội hằng năm nộp ngân sách 2 tỷ USD, tạo việc làm cho 187.000 lao động. Một số đơn vị đóng vai trò trụ cột trong nền kinh tế, riêng Viettel năm 2014 đạt lợi nhuận trước thuế là 42.000 tỷ đồng, nộp ngân sách hơn 15.000 tỷ đồng.

(Còn nữa)

Có thể bạn quan tâm