Sửa đổi bổ sung bộ tiêu chí xã, huyện đạt chuẩn nông thôn mới

NDO - Chiều 11/3, tại Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Văn phòng Điều phối Nông thôn mới Trung ương tổ chức họp báo thông tin về việc sửa đổi một số tiêu chí, chỉ tiêu của Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới (NTM), Bộ tiêu chí quốc gia về xã NTM nâng cao, Bộ tiêu chí quốc gia về huyện NTM và Bộ tiêu chí quốc gia về huyện NTM nâng cao giai đoạn 2021-2025; bổ sung tiêu chí huyện NTM đặc thù, không có đơn vị hành chính cấp xã giai đoạn 2021-2025.
0:00 / 0:00
0:00
Quang cảnh buổi họp báo thông báo một số sửa đổi bổ sung của Bộ tiêu chí xã, huyện đạt chuẩn nông thôn mới.
Quang cảnh buổi họp báo thông báo một số sửa đổi bổ sung của Bộ tiêu chí xã, huyện đạt chuẩn nông thôn mới.

Theo Văn phòng Điều phối Nông thôn mới Trung ương, đến nay cả nước có khoảng 78% số xã đạt chuẩn nông thôn mới (NTM); trong đó, có 1.737 xã đạt chuẩn NTM nâng cao (tăng 114 xã so cuối năm 2023) và 301 xã đạt chuẩn NTM kiểu mẫu (tăng 38 xã so cuối năm 2023); bình quân cả nước đạt 17,1 tiêu chí/xã (tăng 0,2 tiêu chí so cuối năm 2023); có 280 đơn vị cấp huyện thuộc 58 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã được Thủ tướng Chính phủ công nhận hoàn thành nhiệm vụ/đạt chuẩn NTM, tăng 10 đơn vị so cuối năm 2023 (chiếm khoảng 43,6% tổng số đơn vị cấp huyện của cả nước), trong đó, đã có 2 huyện được Thủ tướng Chính phủ công nhận đạt chuẩn NTM nâng cao; có 22 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có 100% số xã đạt chuẩn NTM, tăng 2 tỉnh (Tiền Giang, Đồng Tháp) so cuối năm 2023.

Về huy động nguồn lực thực hiện Chương trình giai đoạn 2021-2023 (lũy kế đến hết năm 2023): Cả nước huy động được khoảng 2,55 triệu tỷ đồng đầu tư thực hiện Chương trình... Phấn đấu năm 2024, cả nước có khoảng 80% xã đạt chuẩn NTM; khoảng 11.500 sản phẩm được chuẩn hóa theo bộ tiêu chí sản phẩm OCOP.

Theo Chánh Văn phòng Điều phối Nông thôn mới Trung ương, Ngô Trường Sơn cho biết, năm 2024 là năm bản lề của giai đoạn 2021-2025, các địa phương cần cố gắng, nỗ lực đẩy nhanh hoàn thành Chương trình xây dựng NTM. Hiện nay, các cơ chế, chính sách đã hoàn thiện để các địa phương có căn cứ, cơ sở để triển khai một cách đồng bộ.

Trong thời gian qua, bộ tiêu chí NTM các cấp là cơ sở pháp lý để thực hiện công tác lập kế hoạch và giám sát, đánh giá kết quả thực hiện Chương trình, thẩm định, xét công nhận các địa phương đạt chuẩn/hoàn thành nhiệm vụ xây dựng NTM; là cơ sở để xác định vai trò, nhiệm vụ thực hiện Chương trình của các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể các cấp; giúp các địa phương xác định được các mục tiêu, giải pháp phấn đấu cụ thể và có sự quan tâm đầu tư hỗ trợ hài hòa trên các lĩnh vực phát triển nông thôn để nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân.

Tuy nhiên, trong quá trình triển khai tổ chức thực hiện và đánh giá kết quả thực hiện xây dựng NTM ở địa phương vẫn còn gặp vướng mắc, khó khăn như: một số nội dung tiêu chí, chỉ tiêu chưa thực sự phù hợp đối với những địa phương có đặc thù về điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội, hoặc chưa thống nhất với quy định tại văn bản quy phạm pháp luật mới ban hành trong thời gian qua; chưa có quy định tiêu chí NTM đối với huyện đặc thù, không có đơn vị hành chính cấp xã…

Như vậy, việc ban hành Quyết định số 211/QĐ-TTg ngày 1/3/2024 của Thủ tướng Chính phủ sửa đổi một số tiêu chí, chỉ tiêu của Bộ tiêu chí quốc gia về xã NTM, Bộ tiêu chí quốc gia về xã NTM nâng cao, Bộ tiêu chí quốc gia về huyện NTM, Bộ tiêu chí quốc gia về huyện NTM nâng cao và bổ sung tiêu chí huyện NTM đặc thù, không có đơn vị hành chính cấp xã giai đoạn 2021-2025 là cần thiết, nhằm hoàn thiện đầy đủ cơ sở pháp lý, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong thực hiện xây dựng NTM/NTM nâng cao cấp xã, huyện thời gian qua và xây dựng NTM đối với huyện đặc thù, không có đơn vị hành chính cấp xã.

Cụ thể, sửa đổi một số tiêu chí, chỉ tiêu của Bộ tiêu chí quốc gia về xã NTM giai đoạn 2021-2025 như: sửa đổi chỉ tiêu “13.1. Xã có hợp tác xã hoạt động hiệu quả và theo đúng quy định của Luật Hợp tác xã” thành “13.1. Xã có hợp tác xã hoạt động hiệu quả và theo đúng quy định của Luật Hợp tác xã, hoặc xã có tổ hợp tác hoạt động hiệu quả, theo đúng của quy định pháp luật và có hợp đồng hợp tác, tiêu thụ sản phẩm chủ lực của địa phương”.

Sửa đổi chỉ tiêu “15.4. Tỷ lệ dân số có sổ khám chữa bệnh điện tử” và yêu cầu mức đạt chung là “≥60%” thành “15.4. Xã triển khai thực hiện sổ khám chữa bệnh điện tử” và yêu cầu mức đạt là “Đạt”. Sửa đổi chỉ tiêu 17.1 về Tỷ lệ hộ được sử dụng nước sạch theo quy chuẩn từ hệ thống cấp nước tập trung, yêu cầu mức đạt theo từng vùng từ “≥10%” đến “≥40%” thành “Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định cụ thể tỷ lệ hộ được sử dụng nước sạch theo quy chuẩn từ hệ thống cấp nước tập trung (nếu có)”. Sửa đổi chỉ tiêu “18.4. Xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật theo quy định” thành “18.4. Tiếp cận pháp luật”.

Đối với Bộ tiêu chí quốc gia về xã NTM nâng cao, sửa đổi 2 chỉ tiêu thuộc tiêu chí số 3 về Thủy lợi và phòng, chống thiên tai. Sửa đổi chỉ tiêu “8.4. Có ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý, điều hành phục vụ đời sống kinh tế-xã hội và tổ chức lấy ý kiến sự hài lòng của người dân về kết quả xây dựng nông thôn mới” thành “8.4. Có ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý, điều hành phục vụ đời sống kinh tế-xã hội”. Việc sửa đổi, bãi bỏ nội dung yêu cầu “tổ chức lấy ý kiến sự hài lòng của người dân về kết quả xây dựng nông thôn mới”.

Bãi bỏ chỉ tiêu “12.3. Tỷ lệ lao động làm việc trong các ngành kinh tế chủ lực trên địa bàn” và yêu cầu mức đạt là “UBND cấp tỉnh quy định cụ thể” thuộc tiêu chí số 12 về Lao động. Sửa đổi 2 chỉ tiêu thuộc tiêu chí số 13 về Tổ chức sản xuất và phát triển kinh tế nông thôn. Sửa đổi 3 chỉ tiêu thuộc tiêu chí số 14 về Y tế để phù hợp hơn với điều kiện thực tế.

Sửa đổi chỉ tiêu “15.2. Có dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 trở lên” thành “15.2. Có dịch vụ công trực tuyến một phần”. Sửa đổi 2 chỉ tiêu thuộc tiêu chí số 16 về Tiếp cận pháp luật để rõ hơn nội hàm của nội dung quy định và để các cơ quan, địa phương có liên quan thống nhất cách hiểu trong triển khai thực hiện và đánh giá kết quả thực hiện. Sửa đổi chỉ tiêu “17.10. Tỷ lệ sử dụng hình thức hỏa táng” và yêu cầu mức đạt chuẩn theo từng vùng từ “≥5%” đến “≥10%” thành “17.10. Tỷ lệ sử dụng hình thức hỏa táng” và phân cấp cho “UBND cấp tỉnh quy định cụ thể (nếu có) để phù hợp với quy hoạch, điều kiện thực tế, nhu cầu của cộng đồng và đặc điểm văn hóa từng dân tộc”. Sửa đổi 3 chỉ tiêu thuộc tiêu chí số 18 về Chất lượng môi trường sống.

Đối với Bộ tiêu chí quốc gia về huyện NTM, sửa đổi chỉ tiêu “2.4. Bến xe khách tại trung tâm huyện (nếu có theo quy hoạch) đạt tiêu chuẩn loại IV trở lên” và yêu cầu mức đạt là “Đạt” thành “2.4. Bến xe khách tại huyện (nếu có theo quy hoạch) đạt tiêu chuẩn loại IV trở lên” và yêu cầu mức đạt là “≥01”.

Sửa đổi chỉ tiêu “5.4. Trung tâm giáo dục nghề nghiệp-giáo dục thường xuyên đạt kiểm định chất lượng giáo dục” và yêu cầu mức đạt là “Cấp độ 1” thành “5.4. Trung tâm giáo dục nghề nghiệp-giáo dục thường xuyên đạt kiểm định chất lượng giáo dục cấp độ 1, hoặc đánh giá đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục thông qua các thiết chế giáo dục khác được giao chức năng, nhiệm vụ giáo dục thường xuyên trên địa bàn” và phân cấp cho “UBND cấp tỉnh quy định cụ thể”.

Sửa đổi 2 chỉ tiêu thuộc tiêu chí số 6 về Kinh tế. Sửa đổi chỉ tiêu “7.4. Có công trình xử lý nước thải sinh hoạt tập trung áp dụng biện pháp phù hợp” thành “7.4. Có công trình xử lý nước thải sinh hoạt áp dụng biện pháp phù hợp”. Sửa đổi chỉ tiêu “9.5. Có dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 trở lên” thành “9.5. Có dịch vụ công trực tuyến một phần”.

Đối với Bộ tiêu chí quốc gia về huyện NTM nâng cao, sửa đổi chỉ tiêu “2.3. Bến xe khách tại trung tâm huyện (nếu có theo quy hoạch) đạt tiêu chuẩn loại III trở lên” và yêu cầu mức đạt là “Đạt” thành “2.3. Bến xe khách tại huyện (nếu có theo quy hoạch) đạt tiêu chuẩn loại III trở lên” và yêu cầu mức đạt là “≥01”.

Sửa đổi chỉ tiêu “3.1. Các công trình thủy lợi do huyện quản lý được bảo trì, nâng cấp, đảm bảo tích hợp hệ thống cơ sở dữ liệu theo chuyển đổi số” thành “3.1. Các công trình thủy lợi do huyện quản lý được bảo trì, nâng cấp”. Sửa đổi chỉ tiêu “5.5. Trung tâm giáo dục nghề nghiệp-giáo dục thường xuyên đạt kiểm định chất lượng giáo dục” và yêu cầu mức đạt là “Cấp độ 2” thành “5.5. Trung tâm giáo dục nghề nghiệp-giáo dục thường xuyên đạt kiểm định chất lượng giáo dục cấp độ 2, hoặc đánh giá đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục thông qua các thiết chế giáo dục khác được giao chức năng, nhiệm vụ giáo dục thường xuyên trên địa bàn” và phân cấp cho “UBND cấp tỉnh quy định cụ thể”.

Sửa đổi chỉ tiêu “6.3. Có chợ đạt tiêu chuẩn chợ hạng 2 hoặc trung tâm thương mại đạt chuẩn theo quy định” thành “6.3. Có chợ đạt tiêu chuẩn chợ kinh doanh thực phẩm theo quy định”. Sửa đổi chỉ tiêu “9.2. Có dịch vụ công trực tuyến” (yêu cầu mức đạt chuẩn là “Mức độ 4”) thành “9.2. Có dịch vụ công trực tuyến toàn trình”.

Đối với việc bổ sung tiêu chí huyện NTM đặc thù, không có đơn vị hành chính cấp xã giai đoạn 2021-2025, giữ nguyên bố cục và số lượng 9 tiêu chí, bao gồm 38 chỉ tiêu (tăng 2 chỉ tiêu so với Bộ tiêu chí huyện NTM giai đoạn 2021-2025), trong đó: Điều chỉnh tên, nội hàm 18 tiêu chí, chỉ tiêu, lược bỏ 5 chỉ tiêu và bổ sung 7 chỉ tiêu cho phù hợp điều kiện thực tế xây dựng NTM đối với huyện đặc thù, không có đơn vị hành chính cấp xã.