Sử dụng bền vững các vùng đất ngập nước

Trong các hệ sinh thái, vùng đất ngập nước có đa dạng sinh học cao. Thời gian qua, các địa phương ở phía đông Thành phố Hồ Chí Minh đã nỗ lực bảo tồn, phát triển diện tích, sử dụng các vùng đất ngập nước một cách hiệu quả, bền vững.

Thanh niên tham gia trồng rừng ngập mặn ven biển phường Phú Mỹ, Thành phố Hồ Chí Minh.
Thanh niên tham gia trồng rừng ngập mặn ven biển phường Phú Mỹ, Thành phố Hồ Chí Minh.

“Lá phổi” cho đô thị

Xuôi theo dòng sông Thị Vải-Cái Mép, sông Dinh, sông Chà Và..., những cánh rừng ngập mặn, những cây đước, cây bần xanh trải dài ngút ngàn tầm mắt. Không chỉ mang đầy đủ giá trị của vùng đất ngập nước như làm chậm dòng chảy của nước triều, giảm độ mạnh và cao của sóng triều, bảo vệ đê biển, hạn chế xâm nhập mặn, tạo đa dạng sinh học, rừng ngập mặn ở phía đông Thành phố Hồ Chí Minh còn có tác dụng là “lá phổi” cho các đô thị và giá trị cảnh quan rất lớn.

Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường, để phát huy tối đa tiềm năng, thế mạnh của các vùng đất ngập nước, sở đã đề xuất giải pháp phát triển du lịch sinh thái rừng ngập mặn kết hợp nuôi trồng thủy sản. Cơ quan chức năng đã rà soát, thống kê lại toàn bộ các khu rừng ngập mặn ven biển, dọc hạ nguồn sông Cỏ May, sông Rạng, sông Dinh, sông Chà Và, sông Rạch Tranh, sông Mỏ Nhát...

Tại các vịnh cửa biển như vịnh Ông Bền, vịnh Gành Rái, khu rừng ngập mặn dọc Quốc lộ 51 từ phường Bà Rịa đến phường Vũng Tàu, khu rừng ngập mặn xã Long Điền... được đề xuất tôn tạo bổ sung, khai thác nuôi trồng thủy sản, tạo sinh kế cho người dân tham gia chuỗi du lịch.

Ngoài ra, từ năm 2017 đến nay, các phường, xã ở phía đông thành phố đã phát động trồng 2 ha rừng ngập mặn tại phần rừng phòng hộ thuộc xã Long Sơn. Các loại cây được trồng chủ yếu là đước và bần. Đến nay, khu rừng ngập mặn này đã xanh tươi, bổ sung một phần diện tích rừng ngập mặn đã bị mất do tốc độ đô thị hóa nhanh. Tại đặc khu Côn Đảo, nhiều héc-ta rừng ngập mặn cũng đã được trồng mới, bổ sung thêm cho phần diện tích đất ngập nước của Vườn quốc gia Côn Đảo thêm tươi xanh.

Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, với diện tích khoảng 12 triệu héc-ta, các vùng đất ngập nước ở Việt Nam chiếm khoảng 37% tổng diện tích đất tự nhiên của cả nước. Các hệ sinh thái đất ngập nước tự nhiên quan trọng như hồ, đầm, rừng ngập mặn, vùng đất ngập nước ven biển rất có giá trị về đa dạng sinh học.

Tại phía đông Thành phố Hồ Chí Minh có khoảng 20.000 ha đất ngập nước, trong đó tập trung nhiều nhất là đặc khu Côn Đảo, phường Tân Phước, phường Tân Hải, phường Phú Mỹ, phường Bà Rịa và phường Vũng Tàu. Riêng Vườn quốc gia Côn Đảo có hơn 14.000 ha đất ngập nước.

Đồng chí Phạm Quốc Đăng, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường cho biết: Các vùng đất ngập nước góp phần quan trọng giúp cân bằng sinh thái, là không gian sinh tồn của hàng nghìn loài sinh vật; đồng thời, là nguồn sống của hàng triệu người dân. Vì vậy, công tác bảo tồn và phát triển bền vững các vùng đất ngập nước là một trong những mục tiêu phát triển bền vững của thành phố.

Bảo vệ toàn diện vùng đất ngập nước

Để bảo tồn và sử dụng bền vững các vùng đất ngập nước, Sở Nông nghiệp và Môi trường đã đề nghị các ngành chức năng, các địa phương triển khai giải pháp sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên đất đai; tập trung giám sát diễn biến đa dạng sinh học trong mối liên quan với tác động do biến đổi khí hậu gây nên; nghiên cứu đưa ra các giải pháp ứng phó biến đổi khí hậu của các hệ sinh thái, nhất là hệ sinh thái biển, ven biển, hệ sinh thái nông nghiệp và hệ sinh thái đô thị.

Bên cạnh đó, Sở tiếp tục thống kê, kiểm kê, phân loại các vùng đất ngập nước thuộc địa bàn quản lý theo pháp luật về đất đai, pháp luật về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo. Trên cơ sở này, Sở chỉ đạo triển khai kế hoạch trồng, phục hồi các hệ sinh thái rừng ngập mặn, vùng cửa sông, ven biển, rạn san hô, thảm cỏ biển... để tái lập sự đa dạng sinh học, bảo vệ diện tích rừng và số loài động, thực vật quý hiếm bị đe dọa trong khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu-Phước Bửu và Vườn quốc gia Côn Đảo.

Theo đồng chí Phạm Quốc Đăng, để bảo vệ vùng đất ngập nước, việc triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm ngăn chặn ô nhiễm, suy thoái môi trường biển và phục hồi hệ sinh thái biển được xác định là nhiệm vụ cấp bách.

Ngoài ra, cần kiểm soát hiệu quả bảo tồn các hệ sinh thái biển trước tác động của các nguồn gây ô nhiễm môi trường bằng biện pháp áp dụng các công cụ kinh tế và chính sách trong quản lý môi trường biển như: Lệ phí ô nhiễm, lệ phí xả thải, phí sử dụng biển, phí sản phẩm, lệ phí hành chính thuế, các quỹ môi trường biển và các khoản trợ cấp khác...

Đồng thời, cần có sự liên kết, phối hợp giữa các tỉnh, thành phố, liên vùng và liên ngành chặt chẽ, hiệu quả trong việc kiểm soát các hoạt động khai thác và làm suy kiệt hệ sinh thái biển.

Có thể bạn quan tâm