Trầm Hương học khoa kinh tế của một trường đại học có hạng ở Sài Gòn. Những gì thuộc về lĩnh vực kinh tế cô mới quan tâm. Còn các vấn đề khác cô rất bàng quan.
Bố Trầm Hương là sĩ quan trong quân đội Sài Gòn, chẳng ưa gì Mỹ và cũng không khoái gì Bắc Việt. Ông ta chủ trương: "Người Nam Việt lo việc của người Nam Việt, không chấp nhận bất cứ sự can thiệp nào".
Trầm Hương sắp cầm tấm bằng Cử nhân kinh tế, chiến sự ở Tây Nguyên nổ ra. Hoàng Bảo - ba của Trầm Hương cho rằng Giải phóng chưa đủ sức lật đổ "Việt Nam Cộng hòa". Nhưng chỉ hơn một tháng sau, "cơn lốc đỏ" đã tràn tới sát Sài Gòn. Hoàng Bảo vội vàng lo di tản, Một bất ngờ lớn đã đến với ông ta, cô con gái mà ông quý hơn vàng không đi. Suy nghĩ của Trầm Hương rất đơn giản, cô không có tội. Bộ đội Giải phóng chắc chắn không trả thù một sinh viên kinh tế chưa một ngày cộng tác với chính quyền Sài Gòn. Cha cô lại cho rằng: "Con gái một sĩ quan phe đối địch với Bắc Việt không thể không bị trừng phạt". Trầm Hương không đổi ý mà lại còn khuyên ba ở lại. Lý lẽ của Trầm Hương: "Dù ba có là sĩ quan nhưng ba không ưa gì Mỹ. Nếu ba di tản sang Mỹ thì đó không phải sự lựa chọn sáng suốt". Hoàng Bảo đáp: "Ba chủ trương người Nam Việt lo việc của người Nam Việt, không chấp nhận bất cứ sự can thiệp nào. Một Nam Việt độc lập, Giải phóng chấp nhận sao được nên họ không tha ba". Lý lẽ ấy khiến "cục vàng" của ông đành thua. Ngược lại, Hoàng Bảo cũng bất lực trước con gái. Trầm Hương nhất quyết không di tản. Thế là Hoàng Bảo cùng vợ và con trai, một viên chức trong chính quyền ngụy Sài Gòn, vội vã ra đi. Trước lúc ra sân bay, Hoàng Bảo chỉ nói với Trầm Hương vài câu: "Ba sẽ trở về vào một ngày không xa. Nam Việt phải do người Nam Việt cai quản...". Trầm Hương nghẹn ngào: "Con mong ba sớm trở về. Nước Việt không của người Việt thì của ai?". Nhà có nhiều thứ quý, Hoàng Bảo không hề nói đến mà lại dặn con gái: "Chiếc độc bình là vật vô giá, con phải gắng giữ cho ba...". Trầm Hương thấy lạ. Cái độc bình trông như bao cái bình khác mà lại vô giá ư?
Hoàng Bảo hòa vào dòng người hỗn loạn. Những giọt lệ chia ly của Trầm Hương lặng lẽ tuôn rơi. Hơn bất cứ lúc nào, bức tranh nhốn nháo, hỗn tạp, thảm thương của "Việt Nam Cộng hòa" đập vào mắt Trầm Hương. Nó tác động đến cách nhìn sự kiện của con gái viên tướng Sài Gòn thất thế.
Mười ba năm chiến đấu ở miền nam, Nguyễn Quang Huy gắn bó với Sài Gòn - Gia Ðịnh tới tám năm. Nếu có duyên, anh đã thành rể Sài Gòn. Anh đành trái duyên với một nữ biệt động xinh đẹp. Bởi ngoài bắc anh đã có một lời hẹn. Sài Gòn giải phóng, cấp trên cho anh ra bắc ngay để lo chuyện gia đình.
Năm 1954 trong đoàn quân tiến về Hà Nội, Quang Huy mới 16 tuổi. Sau đó không lâu, anh được đi học văn hóa rồi vào trường sĩ quan. Cuối năm 1962, Quang Huy đã có mặt ở chiến trường miền nam. Những tưởng chỉ dăm năm là cùng, anh sẽ đi từ Sài Gòn ra Thủ đô bằng ô-tô trên lộ Một. Ðến ngày ấy, anh mới "tiểu đăng khoa" nào có muộn gì. Năm vào chiến trường, Quang Huy 24 tuổi. Người anh yêu thương mới 19 tuổi. Họ rất yêu nhau, nhưng cả hai chưa muốn kết hôn. Quang Huy nghĩ, vào chiến trường lỡ ra... Ðiều ấy có thể lắm chứ. Thư sẽ phải quấn mảnh khăn xô lên đầu, khổ một đời. Còn Thư, cô nữ sinh mới tốt nghiệp cấp III, bao giảng đường đang vẫy gọi Thư. Khi thực sự yêu nhau, người ta luôn vì nhau và đầy trách nhiệm với hôn nhân. Vì thế, họ có một cuộc chia ly rất đẹp. Quang Huy ra chiến trường, Thư vào Ðại học hẹn Quang Huy: "Ngày anh ra Bắc sẽ là ngày mình kết hôn". Từ đó, Quang Huy canh cánh một lời hẹn. Anh trái duyên với một nữ biệt động Sài Gòn là vì vậy.
Tháng 9 năm 1975, đám cưới của thiếu tá Quang Huy và cô kỹ sư nông nghiệp Trần Thị Thư được cử hành. Sau ngày cưới không lâu, Quang Huy chuyển về tỉnh đội tỉnh H. Tháng 10 năm 1977, Quang Huy nhận được thiếp mời của Mai. Anh vừa mừng vừa buồn. Sự vui mừng của Quang Huy là tình cảm cao thượng. Còn nỗi buồn? Hình bóng Mai vẫn xâm chiếm trái tim anh. Mai đã chia lửa cho anh những lúc máu lửa nhất. Nếu không có người nữ biệt động Sài Gòn mưu trí, quả cảm ấy chắc gì anh được trở về với mẹ và với Thư... "Yêu Mai phải lo cho Mai chu đáo, thế thôi"... Quang Huy đưa thiếp mời của Mai cho vợ xem. Sau giây lát suy nghĩ, Thư nói: "Ngày cưới chị Mai, em cùng đoàn cán bộ của Ty Nông nghiệp đi dự hội nghị ở Hà Nội. Anh phải vào dự đám cưới và anh phải làm gì để xứng với tình cảm chị Mai đã dành cho anh".
Quang Huy thầm cảm ơn vợ.
Trước hai ngày đám cưới của Mai diễn ra, Quang Huy đã có mặt tại thành phố Hồ Chí Minh. Mai mừng lắm, tưng tửng trêu Quang Huy: "Em ế sao được, biệt động Sài Gòn kia mà...". Người mà Mai gửi phận cũng là một biệt động "thành đô". Mai cùng chồng dẫn Quang Huy đi mua đồ. Ba người chọn phương án đi bộ. Mấy khi được lững thững dạo phố Sài Gòn. Ngày trước, họ phải chui lủi, giờ thẳng đôi chân, vươn cao đầu đi giữa đất rộng trời cao cho đã. Họ vừa đi vừa chuyện trò vui vẻ. Tới gần chợ Bến Thành, nghe thấy Quang Huy nói tiếng bắc như hát, một người đàn bà chừng năm chục tuổi đi phía sau vượt lên hỏi:
- Phiền ông một chút, ông người bắc ở vùng nào ngoài đó?
Quang Huy hỏi lại:
- Bà chắc cũng là dân bắc, không phải người bắc không nói được giọng bắc thuần như thế?
- Tôi quê tỉnh nam, vào trong này hồi Năm Tư.
- Tôi cũng gần tỉnh nam.
- Nhà tôi gần đây, xin mời hai ông và bà vào chơi.
Không nỡ từ chối lời mời, ba người bước theo người đàn bà quê bắc. Tới căn nhà mặt phố không lớn nhưng cũng trông được, người đàn bà dừng chân:
- Tôi là Từ. Nhà tôi đây, mời hai ông và bà vào.
Ba cựu biệt động Sài Gòn bước vào nhà bà Từ. Các quầy trưng thiết bị nghe nhìn choán gần hết gian nhà lớn. Quang Huy hỏi:
- Bà buôn bán thứ này?
- Vâng, tôi buôn.
Bà Từ pha trà bắc và mở tủ lấy thuốc lá Ðiện Biên mời khách. Quả là bà rất tâm lý...
- Bà là dân "Năm Tư" mà cũng khá thật! - Quang Huy nói.
Bà Từ bộc bạch:
- Tôi vào trong này, hai năm ở khu Bình An khổ quá. Vợ chồng tôi dắt con ra Biên Hòa dựng một túp cạnh đường ở tạm và buôn bán vặt. Chúa thương nên cũng có miếng ăn.
- Bà nói vậy nghĩa là thế nào?
- Tôi buôn hàng quân sự của Mỹ.
Quang Huy sửng sốt:
- Buôn hàng quân sự Mỹ?
- Nhà tôi sát mặt lộ ở nơi vắng vẻ. Từng đoàn xe hàng quân sự của Mỹ đi qua. Thiếu tiền, chúng bán cả xe. Ông nhà tôi chỉ việc đeo vào một biển xe dân sự giả rồi mang đi bán, cũng bán cả xe.
- Hàng chứa trong xe là hàng gì?
- Hàng gì cũng xài. Nó bán rẻ như bèo.
- Súng đạn thì sao?
- Súng đạn càng lời to.
- Ông nhà bán cho ai?
- Bán cho Giải phóng.
- Ông nhà to gan thế kia à?
- Ông nhà tôi móc với một Trung tá Sài Gòn. Anh ta móc với Giải phóng rồi tổ chức hành quân. Tới bìa rừng, anh ta nổ súng rùng rùng rồi cho quân tháo lui, để xe vũ khí lại. Người của Giải phóng mang tiền đến điểm hẹn. Anh ta trả vốn gốc cho tôi, lời phân đôi.
Chồng của Mai reo lên:
- Chiến tranh cách mạng thiệt thần kỳ!
- Còn chuyện lạ nữa ấy chứ - Bà Từ nói.
- Chuyện gì? - Quang Huy hỏi.
- Về sau, người Trung tá ấy có ý hẳn hoi. Anh ta còn tìm cách cho Giải phóng ém súng đạn tại nội đô. Năm sáu tám đã lôi ra đánh lại chúng.
Quang Huy hỏi dồn:
- Người Trung tá ấy hiện ở đâu?
- Anh ta chết trận rồi.
- Ông nhà hôm nay đi đâu?
Bà Từ buồn rầu:
- Ông nhà tôi đi trại.
- Chẳng lẽ bác trai vào trại vì chuyện buôn hàng Mỹ?
- Cũng không có tội gì khác nữa. Hai con tôi sợ liên lụy, đứa con gái đã vội lấy thằng chồng chả ra gì, thằng con trai bỏ nhà đi. Tôi thì quanh quẩn với món hàng giẻ rách này. Vốn liếng cả đời đấy.
Quang Huy ngạc nhiên:
- Bà nói hàng Mỹ bán cho rẻ như bèo kia mà...
Bà Từ hiểu Quang Huy muốn nói gì, đáp:
- Cũng kiếm được kha khá nên mới tậu được cái nhà này. Còn một số tiền khá lớn nữa, tôi đã mua một số đồ dùng y tế và thuốc men ủng hộ Giải phóng. Giữa năm bảy mươi mốt, người Trung tá Sài Gòn buôn bán với tôi mang đồ y tế của tôi giao cho người của Mặt trận. Lúc quay về, xe của người Trung tá ấy bị trúng đạn.
Quang Huy suy nghĩ về hoàn cảnh của bà Từ. Ðọc được ý nghĩ của Quang Huy, vợ chồng Mai đã can thiệp với người đằng mình. Quang Huy về miền bắc chưa được một tháng đã nhận thư của vợ chồng Mai. Họ thông báo cho anh biết, chồng bà Từ đã được ra trại.
Tháng 4 năm 1985, Quang Huy lại nhận được thư của vợ chồng Mai. Anh sững sờ. Ðiều này ngoài sự tưởng tượng của anh. Vợ chồng Mai đi khu kinh tế mới. Thư rút hết số tiền gửi tiết kiệm cùng chồng đi vào nam. Vào tới nơi, vợ chồng Quang Huy mới ngã ngửa người ra. Vợ chồng Mai đi khu kinh tế mới không phải vì kinh tế gia đình khó khăn mà vì ý nghĩa nêu gương. Sự tình nguyện đi tới nơi hoang vắng, gian khổ để mở mang kinh tế và văn hóa của vợ chồng Mai làm cho hàng nghìn người noi theo. Ngày tiễn vợ chồng Mai đi, vị chỉ huy biệt động Sài Gòn thuở đánh giặc cũng tới. Hôm ấy, Quang Huy nói: "Miền bắc hy sinh rất to lớn cho miền nam đánh giặc vẫn không sánh được với sự hy sinh của thành đồng Tổ quốc. Vợ chồng chị Mai - hai người con của Sài Gòn là biểu hiện của sự hy sinh lớn lao đó. Tạm rời thành phố thân yêu, đi tới nơi hoang vu, khó khăn, thiếu thốn để xây dựng kinh tế, vợ chồng chị Mai là biểu tượng của khí phách anh hùng mới". Vị chỉ huy biệt động đầu trắng xóa như mây ghì chặt Quang Huy. Thư chứng kiến cảnh ấy càng hiểu thêm về chồng trước đây đã sống và chiến đấu như thế nào ở tuyến đầu Tổ quốc.
Quang Huy dẫn Thư đến thăm bà Từ. Anh giấu kín việc vợ chồng Mai tác động khiến chồng bà Từ được ra trại trước thời hạn. Dù vậy bà Từ cũng biết. Bà Từ nói xa xôi: "Gặp vợ chồng cô Mai một lần, một đời tôi không thể quên...". Quang Huy lảng sang chuyện khác:
- Vào nam lần này, vợ chồng tôi muốn mua một thứ gì thật hiếm để làm kỷ niệm.
Tưởng nói cho qua chuyện, ngờ đâu bà Từ tham gia ngay:
- Có đấy, ông muốn mua, tôi dẫn đi.
- Vật đó là gì?
- Mời ông bà cứ đi, gần đây thôi.
Mua hay không, Quang Huy chưa đặt ra. Anh cứ đưa vợ đi xem đã, cũng là đi chơi phố luôn thể. Bà Từ đưa vợ chồng Quang Huy tới nhà cô gái có tên là Trầm Hương. Sau lời giới thiệu của bà Từ, chủ khách phân ngôi, bà Từ nói:
- Bữa trước cháu nói có cái bình quý muốn bán. Ông bà Huy là đồng hương của bác từ bắc vào có ý muốn mua. Cháu vui lòng cho xem được không?
Trầm Hương nhỏ nhẻ đáp:
- Mua bán là một chuyện. Bác có đồng hương vô, cháu phải cho đồng hương của bác ngó qua chớ.
Trầm Hương mang độc bình ra, nói:
- Cháu hổng biết chiếc bình này quý tới mức nào mà ba cháu dặn hổng được bán. Cũng chẳng giấu gì đồng hương của bác, ba cháu là tướng "Cộng hòa" di tản rồi.
Quang Huy bất ngờ trước sự chân thành của cô gái. Anh cũng không biết chiếc bình quý ở chỗ nào, chỉ thấy chiếc bình có một cây trúc, dưới bóng trúc có hình mặt trăng mầu vàng. Tuy lơ mơ đồ cổ, Quang Huy lại nghĩ chiếc bình của viên sĩ quan "Cộng hòa" cũng đáng mua lắm chứ. Thế là anh ngỏ lời mua. Biết đồng hương của bà Từ là Trung tá quân đội và thấy tư thế của Quang Huy đàng hoàng, Trầm Hương bằng lòng bán với giá hai chỉ vàng.
Về tới nhà, bà Từ nói:
- Ông Trung tá thật có duyên. Mấy hôm trước có người mua năm chỉ, cô Hương không bán. Thế mà hôm nay ông Trung tá hỏi một lời, cô Hương bán ngay, lại bán chưa đến nửa tiền người khác mua.
Thư đế vào:
- Nhà tôi mua nó hai chỉ chứ tôi một chỉ cũng không mua.
Quang Huy giảng giải:
- Hai chỉ, chứ năm chỉ anh cũng mua.
Mang chiếc bình về bắc, Quang Huy đặt nó trong buồng. Sang năm mới, anh sẽ chọn một cành đào đẹp cho cái bình "quý" đỡ tủi.
Mùa đông năm 1988, một đoàn Việt kiều từ Mỹ về Sài Gòn chuẩn bị đón Tết. Có một người trong đoàn Việt kiều ấy tìm đến nhà Trầm Hương, ông ấy đưa cho cô một phong thư. Trầm Hương chưa bóc thư đã biết thư rất quan trọng. Nếu không quan trọng, ba Trầm Hương đã gửi thư qua đường bưu chính quốc tế. Và đúng như Trầm Hương phán đoán, thư của ông gửi cho con gái chủ yếu nói về chiếc bình quý. Nó giữ chìa khóa của một bí mật lớn... Trầm Hương bối rối... Cô chưa biết nên làm thế nào để có lại chiếc bình. Cuối cùng, Trầm Hương khéo léo hỏi bà Từ nên đã biết địa chỉ của Quang Huy.
Ngày mùng 4 tháng Giêng - mùng 4 Tết - năm Kỷ Tỵ - 1989, Quang Huy đang đốt vàng để hôm sau đi làm thì Trầm Hương tới nhà anh. Sau rất nhiều chuyện huyên thuyên, cô ngỏ ý mua lại chiếc độc bình, Quang Huy cười:
- Nếu tôi bằng lòng cho cô chuộc, cô sẽ trả tôi bao nhiêu?
Trầm Hương rụt rè:
- Ông Trung tá đòi bao nhiêu, cháu trả bấy nhiêu.
Quang Huy lại cười:
- Nếu tôi đòi số tiền lớn hơn số tiền kho báu ba cô giấu mà chìa khóa lại nằm trong chiếc bình thì cô nghĩ sao?
Trầm Hương giật mình:
- Hóa ra, ông Trung tá cũng đã biết?
- Tôi là trinh sát biệt động mà! Ba cô rất hóm đã đặt thợ làm một chiếc bình có độ dày tới hơn đốt ngón tay. Một chiếc đinh ốc bằng vàng, to bằng miệng chén được vặn vào thành bình làm mặt trăng. Ðáy bình giấu một chiếc chìa khóa và lời chỉ dẫn trong một cái túi mỏng, được nghi trang rất khéo. Nó là cả một bí mật lớn. Cô nghĩ thế nào về việc chuộc lại chiếc bình này?
Trầm Hương suy nghĩ một lúc lâu, nói:
- Cháu nghĩ rằng ông Trung tá sẽ cho cháu chuộc lại cái bình, với giá tiền trong mơ...
- Vì sao?
- Ðơn giản lắm, ông Trung tá là vị chỉ huy đầy văn hóa của một quân đội có văn hóa.
- Cô không lấy lòng tôi đấy chứ?
- Quân Giải phóng là đội quân có văn hóa. Một học giả phương Tây nổi tiếng cũng đã nói như vậy. Ông Trung tá chưa quên ngày cháu bán cho ông chiếc bình chớ. Kính trọng ông, cháu chỉ lấy tiền gọi là giao thiệp.
- Tôi biết điều đó. Tôi còn biết tường tận về ba cô qua bạn tôi sau hôm tôi mua chiếc bình.
- Nếu đúng như vậy, xin ông Trung tá cho vài nhận xét về ba cháu.
- Xét về hình thức, ba cô không thuộc cỡ trọng tội. Ba cô tôn sùng chủ nghĩa dân tộc thuần túy đến cực đoan, có nghĩa là vĩnh viễn chia cắt đất nước. Dù không ưa gì Mỹ nhưng nhiều người như ba cô đã làm tổn hại thêm bao nhiêu xương máu. Thế nhưng ba cô và những người muốn chia cắt đất nước không thể chống lại được lịch sử.
Trầm Hương ngồi lặng, Quang Huy nói tiếp:
- Tôi mua cái bình của cô bao nhiêu tiền, tôi cho cô chuộc lại đúng bằng ấy. Tôi chỉ muốn hỏi cô một điều, những đồng tiền của ba cô từ đâu mà có?
Trầm Hương suy nghĩ một lúc lâu, nói:
- Cháu đã hiểu lời ông Trung tá.
Hơn mười năm sau, bất ngờ Trầm Hương lại ra thăm Quang Huy. Rất cảm động, Trầm Hương nói:
- Những lời ông Trung tá nói đã đến tai ba cháu. Thật lạ! Chẳng những ba cháu mà rất nhiều người, có cả cỡ bự đã thay đổi cách nhìn nhận về cuộc chiến tranh vừa qua. Họ muốn đóng góp tình cảm, trí tuệ, tiền bạc xây dựng Sài Gòn, xây dựng Tổ quốc Việt Nam. Ba cháu viết thư nói là sẽ về nước. Ông còn nói: "Cuộc đời của ông Trung tá (Quang Huy) và những kiến giải của ông đã làm sáng tỏ một phần quan trọng vì sao Mặt trận đã thắng". Và cũng như ông Trung tá nghĩ, ba cháu nói: "Kho báu của ba phải được sử dụng cho những việc công ích". Cháu làm như ý nguyện của ba cháu.
Quang Huy cười:
- Rất mừng cho cô, càng rất mừng cho ba cô nếu ông ấy trở về với cộng đồng nước Việt Nam thống nhất.
Tôi đọc truyện này cho bạn tôi là một biệt động Sài Gòn nghe, trước khi tôi cầm bút viết đoạn kết. Bạn tôi nói: "Chuyện ông kể rồi sẽ thành cổ tích". Tôi cười và nói thêm: "Còn nhiều chuyện của Sài Gòn sẽ trở thành cổ tích. Chúng ta phải có trách nhiệm làm cho nó ngời lên".
Ðất nước đổi mới, Sài Gòn đang vươn tới tráng lệ. Những giọt máu thấm đất thành đồng đã hóa thành hoa.