Ung thư cổ tử cung giai đoạn IV – tiên lượng dè dặt nhưng đã đáp ứng kéo dài 10 năm
Cách đây 10 năm, khi mới nhập viện, nữ bệnh nhân được chẩn đoán ung thư cổ tử cung giai đoạn IV với nhiều ổ di căn, tiên lượng rất dè dặt. Thời điểm đó, người bệnh suy kiệt, không thể tự đi lại, tinh thần gần như sụp đổ. Tuy nhiên, nhờ sự phối hợp chặt chẽ của đội ngũ đa chuyên khoa cùng quyết tâm điều trị, bệnh nhân đã đáp ứng hoàn toàn với hóa trị và duy trì ổn định trong suốt gần một thập kỷ. Mới đây, khi bệnh tái phát, người bệnh đã được các bác sĩ Bệnh viện K phẫu thuật robot thành công, mở ra cơ hội kiểm soát bệnh và cải thiện chất lượng sống.
Bệnh nhân T.T.P. (56 tuổi, Hà Nội) là một trường hợp đặc biệt. Tháng 3/2015, khi 47 tuổi, bệnh nhân P. được chẩn đoán ung thư cổ tử cung giai đoạn IV, đã di căn xương (kèm gãy xương), di căn hạch chậu, hạch ổ bụng và hạch trung thất. Giải phẫu bệnh xác định carcinoma thần kinh nội tiết tế bào nhỏ – một thể bệnh hiếm, tiến triển nhanh, tiên lượng xấu.
Tiến sĩ, Bác sĩ Đào Văn Tú, Trưởng khoa Điều trị theo yêu cầu (Bệnh viện K Quán Sứ) nhớ lại: “Lúc bấy giờ tôi vẫn nhớ hình ảnh bệnh nhân P. nhập viện trên chiếc xe lăn. Vợ chồng chị P. và người nhà đều rất lo lắng trước bệnh tình của chị, cảm giác như lúc bấy giờ họ trực trào nước mắt vì bất lực, chỉ đến với tâm lý còn nước còn tát, nhưng không quá hy vọng vì bệnh rất nặng.
Bệnh nhân phát hiện ở giai đoạn cuối, thể bệnh hiếm, khó khăn trong điều trị nên bác sĩ gặp nhiều thách thức trong việc đưa ra phác đồ phù hợp với thể trạng người bệnh. Cả ê-kíp liên khoa đã phải cùng nhau hội chẩn và cuối cùng cũng tìm được phương án điều trị tốt nhất thời điểm bấy giờ”.
Sau hội chẩn liên chuyên khoa, bệnh nhân được điều trị hóa chất phác đồ etoposide kết hợp cisplatin. Sau 6 chu kỳ, bệnh nhân đạt đáp ứng hoàn toàn, thể trạng cải thiện rõ rệt, trở lại sinh hoạt bình thường và được theo dõi định kỳ.
Trong suốt 10 năm sau điều trị, người bệnh quay trở lại cuộc sống bình thường, bệnh nhân duy trì tái khám định kỳ và không có dấu hiệu tái phát. Tuy nhiên, trong đợt kiểm tra sức khỏe vừa qua, bệnh nhân phát hiện tổn thương nghi ngờ tại cổ tử cung. Kết quả xác định ung thư cổ tử cung thể thần kinh nội tiết tế bào nhỏ tái phát tại chỗ.
Khác với lần đầu, bệnh nhân đón nhận tình huống một cách bình tĩnh. “Lúc mới phát hiện tôi nghĩ rằng mình không còn hy vọng, không thể vượt qua vì giai đoạn muộn quá, mọi thứ như sụp đổ với bản thân và gia đình. Nhưng ê-kíp bác sĩ Bệnh viện K đã giúp tôi hồi sinh, nhờ việc tuân thủ phác đồ của các bác sĩ mà 10 năm qua tôi vẫn được ở bên gia đình, được tiếp tục công việc, tiếp tục hy vọng. Chính vì vậy bây giờ khi biết bệnh tái phát, tôi nhẹ nhàng đón nhận, không còn buồn hay hoang mang nữa”, nữ bệnh nhân chia sẻ.
Hội chẩn đa chuyên khoa – cá thể hóa điều trị và ứng dụng phẫu thuật robot
Ở lần tái phát này, chiến lược điều trị được xây dựng theo hướng cá thể hóa, dựa trên lâm sàng, hình ảnh và mô bệnh học. Mục tiêu không chỉ kiểm soát tổn thương tại chỗ mà còn hạn chế nguy cơ di căn xa.
Bệnh nhân được đánh giá toàn diện với các phương tiện hiện đại như MRI, PET/CT, kết hợp hội chẩn đa chuyên khoa (ngoại, nội, xạ trị) và đặc biệt có ý kiến của chuyên gia người Pháp.
Với sự chỉ đạo trực tiếp của Giáo sư, Tiến sĩ Lê Văn Quảng, Giám đốc Bệnh viện; Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Văn Bình, Phó Giám đốc chuyên môn Bệnh viện K, các bác sĩ khoa Ngoại tiêu hóa 1, Khoa Điều trị theo yêu cầu Quán Sứ đã lựa chọn hóa trị nhằm ngăn chặn khả năng di căn xa, kiểm soát nhanh tổn thương cổ tử cung, bao gồm tại u và hạch. Sau 3 chu kỳ hóa trị, bệnh nhân dung nạp thuốc tốt, thể trạng cải thiện và tổn thương còn lại chỉ là một khối nhỏ khu trú tại cổ tử cung.
Trên cơ sở đó, các bác sĩ đã quyết định tiến hành phẫu thuật nội soi bằng robot nhằm đạt được hiệu quả điều trị tối ưu đồng thời bảo đảm chất lượng sống cho người bệnh. Ca phẫu thuật cắt tử cung kết hợp vét hạch chậu được thực hiện thành công.
Kết quả sau mổ cho thấy tổn thương còn lại chỉ là một ổ u nhỏ kích thước khoảng 1x1,5cm, không phát hiện di căn hạch và các diện cắt đều âm tính. Diễn biến hậu phẫu thuận lợi, bệnh nhân hồi phục nhanh, chỉ sau 3 ngày đã có thể rút sonde tiểu và tự đi lại, sau một tuần có thể xuất viện trong tình trạng ổn định.
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Văn Bình, Phó Giám đốc chuyên môn Bệnh viện K cho biết: “Sau hơn 5 năm Bệnh viện K phát triển phẫu thuật nội soi robot điều trị ung thư nói chung, ung thư cổ tử cung nói riêng, hiện tại các chuyên gia của bệnh viện đã làm chủ kỹ thuật để thực hiện các trường hợp phẫu thuật khó, rất nhiều ca bệnh đã được điều trị thành công, đánh giá ổn định sau thời gian dài.
Với mục tiêu điều trị cao, không chỉ đạt được các tiêu chí điều trị triệt để bệnh ung thư mà cần bảo tồn được chức năng cơ quan các can thiệp vùng tiểu khung thì việc bảo tồn thần kinh để giữ chức năng thần kinh chi phối bàng quang và tầng sinh môn cũng như hồi phục nhanh sau mổ, giảm thời gian nằm viện, mang lại hiệu quả điều trị tối ưu cho người bệnh”.
Hành trình 10 năm vượt qua bệnh tật của người bệnh không chỉ là một chiến thắng của ý chí mà còn là kết quả của sự phối hợp chặt chẽ giữa người bệnh và đội ngũ y bác sĩ. Dù phía trước vẫn còn những thách thức, nhưng với nền tảng điều trị hiện đại và niềm tin vững chắc, hành trình ấy sẽ tiếp tục được viết tiếp bằng hy vọng.