Phát triển bền vững nghề nuôi cá tra ở Nam Bộ

Phát triển bền vững nghề nuôi cá tra ở Nam Bộ

Tính đến hết năm 2006, diện tích chuyển đổi đạt gần 326 nghìn ha, nâng diện tích nuôi thủy sản của toàn vùng lên hơn 747,3 nghìn ha, trong đó có  hơn 152,5 nghìn ha nuôi các loài thủy sản nước ngọt. Hầu hết diện tích chuyển đổi sang nuôi trồng thủy sản là đất trồng lúa kém hiệu quả và đất hoang hóa. Ở các vùng chuyển đổi, nghề nuôi phát triển mạnh ở cả ba loại hình nuôi nước mặn, nước lợ và nước ngọt với các loài: tôm sú được nuôi ở ven biển, cá tra ở nội đồng.

Việc chuyển đổi đã mang lại hiệu quả rõ ràng, giá trị thu nhập tăng từ 4 đến 10 lần trồng lúa. Năm 2006, toàn vùng đạt tổng sản lượng thủy sản gần 1,3 triệu tấn. Mặc dù tôm sú có diện tích nuôi lớn, chiếm đến 70%, nhưng sản lượng chỉ  đạt hơn 291 nghìn tấn, đứng thứ hai sau cá tra. Dễ nuôi, sinh trưởng nhanh, thời gian nuôi ngắn, cho năng suất cao, lại có thị trường xuất khẩu, cho nên gần đây cá tra, cá ba sa được nông dân mở rộng diện tích nuôi. Năm 2005, sản lượng cá tra sau thu hoạch ở khu vực này chỉ đạt khoảng 373 nghìn tấn, đến năm 2006 tăng đột biến, đạt sản lượng 800 nghìn tấn; trong đó An Giang và Ðồng Tháp là hai tỉnh dẫn đầu về sản lượng cá tra nuôi, đạt gần 400 nghìn tấn.

Từ cuối năm 2006 đến nay, khi giá cá tra tăng và duy trì ở mức cao 16-17 nghìn đồng/kg, phong trào đào ao nuôi cá càng diễn ra rầm rộ. Không chỉ ở vùng chạy dọc dài theo sông Hậu giá đất tăng cao, đến cả các tỉnh Hậu Giang, Sóc Trăng tuy mới vào nghề nuôi cá nhưng người ta đã săn lùng mua, thuê đất đào ao nuôi cá ồ ạt.

Tại xã cù lao Tân Lộc, huyện Thốt Nốt, TP Cần Thơ, đất nằm ở vị trí "đẹp" thuận nuôi cá, giá lên đến 130-150 triệu đồng/công. Trong khi đó, từ đầu năm 2007 đến nay, tại các huyện Kế Sách, Cù Lao Dung, Long Phú (Sóc Trăng) đã có gần 100 ha ao cá đào mới. Nông dân ở đây đã đăng ký với chính quyền địa phương mở rộng diện tích đào ao nuôi cá tra lên đến 3.500 ha, trong khi quy hoạch của tỉnh đến năm 2010 diện tích nuôi cá tra không vượt quá 2.000 ha. Hiện Sóc Trăng có một nhà máy chế biến cá tra công suất 20 nghìn tấn/năm và với công suất này chỉ cần 200 ha ao nuôi là đủ. Do nhiều người đổ xô đào ao nuôi cá, cho nên giá đất ở đây đã tăng vọt, lên đến 350-400 triệu đồng/ha. Từ đầu năm 2007 đến nay, diện tích ao cá  đào mới tại các tỉnh trong vùng tăng lên đến gần 2.000 ha, trong đó nhiều nhất là An Giang, Ðồng Tháp.

Việc chuyển đổi đào ao nuôi cá tra, tự phát khá nhanh, trong khi cơ sở hạ tầng về kỹ thuật không theo kịp, đã bộc lộ nhiều vấn đề bất cập. Ðó là việc quy hoạch vùng nuôi, nhất là quy hoạch thủy lợi chưa đáp ứng yêu cầu phát triển; chất lượng con giống chưa được kiểm soát; lạm dụng sử dụng hóa chất, thuốc chữa bệnh trong nuôi thâm canh, thức ăn chất lượng kém giá cao, thức ăn tự chế biến quá nhiều; năng lực quản lý môi trường và dịch bệnh còn yếu, chất lượng sản phẩm không ổn định, gây khó khăn trong khâu tiêu thụ... Ðây là những vấn đề đang gây bất ổn cho nghề nuôi cá tra hiện nay.

Khắc phục thực trạng này, nhiều địa phương đã đề ra các biện pháp tình thế nhằm hạn chế việc mở rộng chuyển đổi diện tích. Sở Thủy sản các tỉnh An Giang, Ðồng Tháp có những quy định, hướng dẫn người nuôi cá các biện pháp kỹ thuật cụ thể, nhất là vấn đề xử lý nước thải, chất thải để bảo vệ môi trường nuôi; đồng thời kiên quyết xử lý nghiêm những hộ nuôi nào không tuân thủ quy định chung. Hiện nay, hầu như tất cả người nuôi cá tra đều xả chất thải trực tiếp ra các dòng sông, kênh rạch, gây ô nhiễm môi trường ngày càng nặng. Theo tính toán, để có được 1 kg cá tra nguyên liệu, trong quá trình nuôi phải tiêu tốn 5 kg thức ăn các loại và thải ra 4 kg chất thải của cá...

Kỹ sư Nguyễn Văn Dần, Trưởng Liên trạm thủy sản huyện Thốt Nốt-Tân Thạnh (Cần Thơ) cho biết: Ngoài 600 ha diện tích ao nuôi cá tra hiện có, thời gian tới toàn huyện sẽ quy hoạch phát triển thêm 500 ha, chủ yếu theo tuyến ven sông Hậu, ven kênh rạch và không được đào ao lấn sâu quá 300 m trong đồng vì lo ngại ô nhiễm môi trường. Ðể bảo vệ môi trường nuôi thủy sản, cán bộ khuyến ngư của trạm  đến từng địa bàn hướng dẫn người nuôi các biện pháp nuôi cá tra thâm canh giảm thiểu ô nhiễm môi trường thông qua việc xử lý ao nuôi đúng quy trình kỹ thuật, nhất là việc xây dựng, xử lý hệ thống nước thải, cam kết bảo vệ môi trường... Là địa bàn trọng điểm nuôi cá tra của Cần Thơ, huyện Thốt Nốt cũng đã triển khai, mở rộng trại sản xuất con giống trên diện tích 12 ha; bước đầu cung cấp khoảng 10% con giống cho người nuôi. Dự kiến, thời gian tới khi trại giống xây dựng hoàn thành, sẽ cung cấp khoảng 5-10 triệu con cá giống sạch, đáp ứng 30% nhu cầu người nuôi tại địa phương, góp phần khắc phục tình trạng thiếu hụt nghiêm trọng con giống hiện nay. Phó Chủ nhiệm HTX nuôi trồng thủy sản Thốt Nốt Nguyễn Minh Tâm, ở xã cù lao Tân Lộc lo lắng: Ðiều khiến chúng tôi lo ngại nhất hiện nay là nhiều người cứ lao vào cuộc, trong khi chẳng hiểu biết gì về nghề nuôi cá, cho nên tiềm ẩn nhiều rủi ro. Thành lập cách đây gần 10 năm, với 11 xã viên, HTX Thốt Nốt hiện có  15 ao nuôi với diện tích 25 ha  đất thuê của Nhà nước nằm ở vị trí ven sông Hậu, thuộc đất bãi bồi rất thích hợp nuôi cá tra. Nhiều năm qua, HTX này luôn ăn nên làm ra, riêng mùa vụ năm 2006 đã thu hoạch đạt sản lượng gần 8.000 tấn cá tra. Tuy nhiên, cho đến gần cuối tháng 4 vừa qua, toàn bộ số ao cá của HTX để trống, không thả cá giống cho vụ nuôi mới. Lý giải về việc này, ông Tâm cho biết thêm: Tình hình nuôi cá đang bấp bênh, người nuôi vẫn còn đơn độc. Chi phí cho vụ nuôi rất cao về con giống, thức ăn, công chăm sóc... Trong khi các doanh nghiệp kinh doanh chế biến chưa liên kết với người sản xuất; lúc cá có giá thì doanh nghiệp thường xuyên lui tới, o bế người nuôi, lúc cá mất giá thì họ biệt tăm.

Không để tái diễn tình trạng nuôi tôm sú ào ạt làm phá vỡ cảnh quan, môi trường tại các tỉnh ven biển Cà Mau, Bạc Liêu... trước đây, các tỉnh trong vùng bây giờ rất thận trọng, có bước đi cụ thể, giới hạn diện tích, áp dụng khoa học kỹ thuật nhằm phát triển ổn định, bền vững nghề nuôi cá tra. Vấn đề được các địa phương quan tâm là việc tăng sản lượng nuôi theo hướng tăng năng suất, hiệu quả kinh tế, tăng chất lượng sản phẩm, bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm; phát triển các mô hình nuôi phù hợp các vùng sinh thái và điều kiện kinh tế-kỹ thuật, sản phẩm hàng hóa đủ lớn, đủ sức cạnh tranh. Theo đó,  các giải pháp, kế hoạch về quy hoạch, bố trí vùng nuôi, đầu tư hệ thống thủy lợi, xử lý môi trường, trạm trại sản xuất con giống; hệ thống chế biến cũng được quan tâm và triển khai thực hiện. Tỉnh An Giang dự kiến từ nay đến năm 2010 sẽ đầu tư hơn 170 tỷ đồng cho hệ thống thủy lợi phục vụ nghề nuôi cá tra, nhưng trước mắt trong năm 2007 đầu tư khoảng 17 tỷ đồng làm mới và cải tạo nâng cấp một số công trình hiện có tại các vùng đang nuôi cá. Ngoài ra, với 15 cơ sở và hàng trăm hộ sản xuất, ươm cá tra giống hiện có, An Giang trở thành tỉnh cung cấp giống cá tra lớn nhất cho toàn vùng, với hơn 1,5 tỷ con.

Khắc phục tình trạng thả nổi chất lượng con giống, Chi cục Bảo vệ nguồn lợi thủy sản tỉnh thời gian qua đã triển khai, hướng dẫn áp dụng nhiều biện pháp về khoa học kỹ thuật cho các chủ trại kinh doanh sản xuất con giống và gắn với việc quản lý nhằm hướng tới sản xuất con giống sạch bệnh, an toàn, giảm thiệt hại rủi ro cho người nuôi. Với chi phí đầu tư thấp, việc đào ao nuôi cá tra thâm canh đã trở thành cách làm phổ biến trong toàn vùng; việc đóng mới lồng nuôi cá bè đã giảm rõ rệt. Theo thống kê của các tỉnh, năng suất bình quân nuôi ao hầm đạt 80-100 tấn/ha; nuôi ao bãi bồi đạt 150-200 tấn/ha. Cá biệt với những ao nuôi có độ sâu 3-5 m, thả cá giống lớn, mật độ dày, thay nước thường xuyên và có hệ thống quạt khí có thể đạt năng suất 300 tấn/ha và nếu rút ngắn thời gian nuôi 2 vụ/năm có thể đạt năng suất 600 tấn/năm. Trong khi nếu nuôi cá bè chỉ đạt 100-120 kg/m3 lồng, cho nên việc nuôi cá tra lồng bè không còn hấp dẫn người nuôi. Theo nhận định của Hiệp hội Thủy sản Việt Nam, với việc mở rộng diện tích tại các vùng nuôi, cũng như quy mô đầu tư nuôi thâm canh, nuôi công nghiệp ngày càng nhiều như hiện nay, dự kiến năm 2007 sản lượng cá tra toàn vùng sau thu hoạch sẽ đạt không dưới một triệu tấn; tăng khoảng 200 nghìn tấn so với năm 2006.

Có thể nói, việc chuyển dịch đất nông nghiệp kém hiệu quả sang nuôi trồng thủy sản tại các tỉnh Nam Bộ trong thời gian qua đã mang lại hiệu quả thiết thực, giúp đông đảo nông dân khá lên; đồng thời khẳng định đây là hướng quan trọng thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và thực hiện CNH, HÐH nông nghiệp, nông thôn.

Có thể bạn quan tâm