Bao kiếp người vẫn phải ngửa mặt nhìn giời “trông mưa, trông nắng, trông ngày, trông đêm”. Sự oái ăm, trái khoáy của biến đổi khí hậu, đành phải cắn răng mà chịu. Tình cảnh “được mùa mất giá” cứ diễn ra triền miên, hết mùa này đến mùa khác, năm này qua năm khác. Ai cũng thấy, đâu cần phải lặn lội về những vùng trồng rau, củ xa xôi, thấy ngay trong các chợ đầu mối, ngồn ngộn hàng đống bắp cải, cải thảo, súp lơ từ biên giới phía bắc, ùn ùn theo cả đoàn xe tải dài lặc lè đổ về. Thấy ngay cả trong một vài siêu thị sáng choang. Chưa kể, ngoài chợ dân sinh, chợ cóc, chợ tạm la liệt. Đâu cần tinh mắt cũng biết ngay. Cuối hè đầu thu, bói đâu ra rau củ mùa đông. Rau trái vụ, họa may chỉ lác đác trồng ở Đà Lạt hay Sa Pa. Bước ra chợ, đặt chân vào siêu thị, câu cửa miệng người ta hay hỏi nhau là: đào, táo, mận, khoai tây, bắp cải, súp lơ… của Trung Quốc hay của ta? Cả đến củ gừng, củ tỏi, hành “nhà trồng được” cũng phủ “màu” nghi ngờ trong mắt người mua. Đâu phải là bán tín, bán nghi. Ở xứ sở rau Đà Lạt, người ta đã phát hiện ra hàng chục tấn khoai tây được nhập về Việt Nam, sau đó được dân mình bôi trát đất vườn nhà để lừa người nặng túi, nhẹ dạ, mắt kém. Mắt quá kém cho nên không nhận ra bắp cải ngoại nhập nho nhỏ như quả bưởi da xanh, có khi xanh thẫm hơn. Nhưng cứ ăn vào là biết ngay. Cái miệng, cái lưỡi khó lừa lắm. Củ khoai to đùng, dễ gọt mà ruột thì nhạt nhẽo, vô vị. Bắp cải, súp lơ cũng thế, bở như khoai, kém ngọt, kém giòn, chẳng thể so với rau củ của ta. Thế nên, người ta phải dán nhãn mác tiếng Việt vào để tăng độ tin cậy “cây nhà, lá vườn”. Nông sản từ bên kia biên giới trà trộn, đội lốt hàng nội, lại được chính người dân mình tiếp tay. Nghĩ mà đau xót như xát muối vào ruột. Lá rau, trái cây, củ quả có lẽ cũng dặt dẹo, vất vưởng như phận người trồng.
Vụ dưa hấu mới đây thôi, xa xôi gì. Nhìn lên vô tuyến thấy ô-tô tải ùn tắc cả cây số trước cửa khẩu, chất ngất dưa hấu. Chín nẫu, thối ủng đổ đầy hai bên đường. Ở vùng trồng dưa, nông dân thắt ruột đổ dưa lấp kín bờ kênh. Cận cảnh khuôn mặt lão ông nhăn nhúm, tay ôm trái dưa trong lòng, tay gạt nước mắt chảy ròng, khiến không ai có thể cầm lòng. Rồi cả nước xúm vào chung tay “giải cứu” dưa hấu. Lúc đó, có nhiều người bảo: Không thể mua dưa ăn trừ bữa mãi được. Vụ này, còn vụ sau? Hết mùa dưa hấu đến mùa cà chua, khoai lang, hành, tỏi, gừng. Ở vùng nuôi bò sữa, nông dân gạt nước mắt đổ sữa tươi chảy tràn trề, lai láng, trắng bợt như gương mặt bệch bạc. Mất mùa, mất giá vì nắng hạn, vì mưa lũ, vì sâu bệnh, vì ông giời, đã đành! Đằng này, “mía trắng trổ cờ, nhà nông trắng tay”, chỉ biết khóc, ngậm ngùi, cam chịu. Vừa mới ngót nghét hai tháng, cuối vụ chanh, nước mắt chưa kịp khô cạn, lại ướt nhòe mắt người trồng chanh. Bốn chục cân chanh không mua nổi một ổ bánh mì. Nước mắt nhà nông ở mọi góc đất, bờ ruộng, mảnh vườn, mùa nào, vụ nào mà chẳng mặn mòi. Có một ông giám đốc công ty động lòng trắc ẩn, bỏ tiền túi ra mua hết đống chanh ấy với giá 5.000 đồng/kg. Mua về, phát miễn phí. Ai có tấm lòng thì bỏ tiền vào thùng, ủng hộ bà con nhà nông. Cuộc “giải cứu” chanh diễn ra chóng vánh. Chỉ trong vòng một tiếng đồng hồ, ngót bốn tấn chanh thu về hơn 10 triệu đồng, đưa tận tay những người trồng chanh...
Những câu chuyện vụn vặt về nước mắt nông dân còn nhiều, kể ra bao giờ mới hết. Ai không phải gốc rễ nông dân mà ra? Một đời, hai đời hay mấy đời thì cũng tới già nửa máu trong huyết quản là hàng triệu “hồng cầu” thấm bùn đất, mùi rơm rạ, gio trấu, lúa khoai. Mỗi bàn tay, mỗi tấm lòng thiện nguyện, hảo tâm như muối bỏ bể. Đấy là nói tới những cánh đồng muối mênh mông, trắng chói mắt cuối vụ mới đây thôi, chứ không ví von hình ảnh. Cả một vựa muối, kho muối lớn nhất cả nước, trải dài mấy trăm héc-ta dọc ven biển trắng nhức con mắt, trắng bạc mặt và trắng hai bàn tay, hai bàn chân vì ngâm trong muối từ mùa này sang mùa sau, từ đời nọ sang đời kia. Năm nay nắng to, nắng nhiều, mưa ít. Sáu bảy trăm hộ diêm dân khấp khởi mừng thầm. Mừng muối chất đầy sân, đầy nhà, chật kho. Nhưng chưa kịp mừng thì mặt mũi héo hắt vì một cân muối sạch, trắng tinh chỉ có 500 đồng. Một tạ muối bán được 50 nghìn đồng, chỉ mua nổi hai tô bún. Giả sử, có ai đó rộng lòng từ thiện, hảo tâm bỏ tiền ra mua hết đống muối đó để “giải cứu” diêm dân như dưa hấu, cà chua, khoai tây, thì chắc hẳn sẽ “ôm” muối mà khóc. Bây giờ ở các thành phố lớn, đô thị lớn, người ta đâu còn dùng muối hạt, muối biển. Gia vị, bột nêm, bột canh tràn ngập. Hạt muối nhỏ nhoi, phận người làm muối dãi dầu giữa những ruộng chang chang nắng lửa dội trên đầu, cũng nhỏ nhoi vậy…
“Ai ơi bưng bát cơm đầy. Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần”. Câu ca dao xưa tưởng như đã cũ… mốc rồi! Nhưng, nếu phủi lớp bụi thời gian, vẫn mới lắm, chưa ráo mực. Vẫn lấm tấm những giọt mồ hôi đắng cay, những giọt nước mắt mặn hơn muối, thấm sâu vào mỗi hạt gạo, quả dưa hấu, cà chua, khoai tây, bắp cải, ngay cả củ gừng, củ tỏi…
Ghi chép