NSND Phùng Há sinh năm 1911 tại Mỹ Tho, Tiền Giang. Bà tham gia nghệ thuật cải lương từ năm 13 tuổi (1924) và gắn bó với nghề cho tới khi mất. Trong 86 năm theo nghiệp tổ, bà là diễn viên, trưởng đoàn, giảng viên cải lương ở nhiều thời kỳ. Trước ngày 30-4-1975, bà là Hội trưởng Hội Nghệ sĩ ái hữu tương tế, tiền thân Ban Ái hữu nghệ sĩ thuộc Hội Sân khấu TP Hồ Chí Minh hiện nay. Suốt cuộc đời hoạt động nghệ thuật, bà đã trải qua các đoàn hát Tái Ðồng Ban, Năm Tú, Huỳnh Kỳ, Trần Ðắc, Phước Cương, Phi Phụng, Phụng Hảo, Việt kịch Năm Châu... lưu diễn trong nước và trên thế giới, như Pháp, Hồng Công, Nam Vang (Cam-pu-chia). Từ vai diễn đầu tiên Giả Thị trong vở "Hoàng Phi Hổ quy châu", bà đã vào vai nhiều nhân vật nổi bật còn lưu lại dấu ấn cho thế hệ con cháu ngày nay: Mộng Hoa Vương trong vở cùng tên, Lữ Bố trong vở "Phụng Nghi Ðình", An Lộc Sơn và Ðường Minh Hoàng trong "Trường hận", Thu Hồ trong "Men rượu hương tình", Người tình trong "Vợ và tình", Bê trong "Khi người điên biết yêu", Tỳ nữ trong "Gánh cải Trạng nguyên", Trạng sư trong "Ðoạn tuyệt", Lựu trong "Ðời cô Lựu", Tô Ánh Nguyệt trong vở cùng tên, v.v. Bà đặc biệt thành công khi đóng vai nữ chính và cả nam chính. Sự đa dạng trong các vai diễn đã tạo cho bà có một vốn nghề vô cùng phong phú. Khi giảng dạy ở Trường quốc gia Âm nhạc trước 30-4-1975, Trường nghệ thuật Sân khấu II (hiện là Trường Cao đẳng Sân khấu-Ðiện ảnh), trường đào tạo Nhà hát Trần Hữu Trang, bà đã đem vốn nghề tận tâm, tận tình truyền dạy thế hệ sau. Nhiều nghệ sĩ cải lương là ngôi sao sân khấu nhờ có sự truyền nghề ca diễn trực tiếp của bà : Thanh Nga, Bạch Tuyết, Ngọc Giàu, Nam Hùng, Thoại Miêu, Tô Kim Hồng, Thanh Thanh Tâm, Kim Tử Long, Hữu Quốc, Tấn Giao... Hầu hết những học trò này của Phùng Há đều đã thành danh, được Nhà nước phong tặng danh hiệu NSƯT.
Cuộc đời nghệ thuật của NSND Phùng Há có bước ngoặt rất quan trọng khi gặp được NSND Năm Châu. Trước đó, bà hoạt động nghề nghiệp theo bản năng, chuyên diễn tuồng Trung Hoa theo phong cách Quảng Ðông, học nghề từ các nghệ nhân Quảng Ðông sang Sài Gòn - Chợ Lớn biểu diễn. Bà chỉ biết mê nghề và rèn luyện nghề. Khi gặp NSND Năm Châu, bà mới ý thức được trách nhiệm công dân của người nghệ sĩ. Bà nhận ra nghệ sĩ không phải chịu số phận "thằng kép, con đào", mua vui cho thiên hạ, mà còn có một thiên chức khác là làm cho con người yêu thương nhau hơn, xã hội tốt đẹp hơn... NSND Năm Châu và bà đã diễn cùng nhau trong các vở tuồng phóng tác từ kịch Tây, tuồng xã hội hiện đại và sự thành công ở các vai diễn loại này lại vượt trội lên, khẳng định bà là một nữ nghệ sĩ toàn năng. Cho tới những năm cuối đời, bà luôn tôn kính NSND Năm Châu là người thầy, người anh trong nghề. Sự chuyển biến về nhận thức trách nhiệm của người nghệ sĩ đã đưa bà tham gia hoạt động trong các phong trào yêu nước ở đô thị miền nam. Dưới sự chỉ đạo của Thành ủy Sài Gòn lúc bấy giờ, nhằm đẩy mạnh hoạt động văn hóa dân tộc, đấu tranh chống văn hóa đồi trụy; được sự lãnh đạo trực tiếp của soạn giả Trần Hữu Trang, soạn giả - nghệ sĩ Năm Châu; bà đã cùng đông đảo nghệ sĩ tham gia xuống đường trước họng súng, lưỡi lê, lựu đạn.
Hội Nghệ sĩ ái hữu tương tế ra đời là một trung tâm tập hợp nghệ sĩ hoạt động với định hướng yêu nước, dân tộc, hiện đại. Bà là hội trưởng nhiều nhiệm kỳ. Trong cuộc đấu tranh dù phải chịu nhiều áp lực của chính quyền chế độ cũ, bà đã có thái độ kiên định, nhưng cũng hết sức khôn ngoan, mềm dẻo. Bà từ chối tham gia "phong trào phụ nữ liên đới" của Trần Lệ Xuân (vợ Ngô Ðình Nhu), từ chối nguồn tài trợ của lính Nam Triều Tiên để xây cất trụ sở Hội Nghệ sĩ ái hữu tương tế. Bà cũng là người góp phần quan trọng để giữ cho sân khấu Sài Gòn không có tác phẩm chống cộng, tố cộng, giữ được đội ngũ hoạt động chuyên môn hùng mạnh, lành mạnh, tham gia tích cực vào sân khấu chung sau ngày đất nước hoàn toàn thống nhất.
Những năm cuối đời, bà vận động thành lập Trung tâm dưỡng lão nghệ sĩ và tổ chức nhiều chuyến đi cứu trợ đồng bào nghèo ở vùng sâu vùng xa. Bà thường tâm sự: Phải đền ơn Tổ nghiệp, phải biết lo cho nghệ sĩ lúc xế chiều và nhất là phải biết đền ơn tri ngộ của khán giả. Các nghệ sĩ, nhà tài trợ ở trong và ngoài nước gửi tiền, gạo, quần áo, thuốc men về chùa. Ông Bầu Xuân, quản trị chùa giữ trách nhiệm phân phối. Bà trực tiếp đi đến tận nơi để cứu trợ. Cho tới trước lúc đi xa, bà còn dặn dò chuyến cứu trợ cho đồng bào dân tộc, chuẩn bị các điều kiện cho bà. Chính bà cũng không ngờ...
NSND Phùng Há không còn nữa! Nhớ về bà, giới sân khấu nói chung, các nghệ sĩ sân khấu TP Hồ Chí Minh nói riêng không thể nào quên lời bà là phải biết giữ lấy nghề, quý trọng Tổ nghiệp. Người nghệ sĩ không chỉ biết có Tổ nghiệp mà còn có Tổ quốc và tổ chức.
Lê Duy Hạnh
(Phó Chủ tịch Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam,
Chủ tịch Hội Sân khấu TP Hồ Chí Minh)