Trong thời kỳ hai tỉnh tập kết của Lào, nhất là ở Sầm Nưa, hệ thống giao thông vận tải, bưu điện và xây dựng chưa có gì. Ðiện thoại phải quay bằng tay, lúc được lúc không, điện tín chỉ đánh bằng moóc tạch te, tạch tè. Ðường giao thông chỉ là những con đường nhỏ do thực dân Pháp làm cho xe zíp của sĩ quan Pháp và bọn tay sai bán nước đi tuần tiễu. Cho đến ngày giải phóng tỉnh Hủa Phăn năm 1953, những con đường đó trở thành đường sống trâu. Việc vận chuyển cung cấp vũ khí và lương thực cho lực lượng cách mạng lúc bấy giờ chỉ bằng sức người. Chúng ta phải huy động cán bộ, bộ đội, công an và nhân dân đi lấy gạo từ Hải Xuân, Ðồng Tâm ở Việt Nam, vừa đi vừa về khoảng mười ngày. Người khỏe có thể mang vác được từ 20 đến 25 kg, về đến nơi chỉ còn có 15 kg. Người mang vác ít hơn, thì chỉ còn 10 kg. Trước những khó khăn của lực lượng cách mạng ở hai tỉnh tập kết, nhất là ở Hủa Phăn - khu trung ương của cách mạng Lào, Chính phủ Việt Nam đã hỗ trợ việc vận chuyển lương thực, thực phẩm bằng xe đạp thồ, người gánh, dùng ngựa thồ đến cho chúng ta tại kho biên giới Na Mèo. Từ đó, chúng ta chuyển về chỉ mất thời gian có hai ngày, quả là thuận lợi hơn rất nhiều. Ðến năm 1955, Chính phủ Việt Nam bắt đầu xây dựng đường từ Việt Nam đến Xiêng Luông. Từ đó có thể dùng xe ô-tô chở hàng đến kho bản Lơi và đến giữa năm 1956 thì xe ô-tô đã chạy đến khu căn cứ cách mạng. Con đường này bắt đầu từ tỉnh Thanh Hóa đến đất Lào, gọi là đường 217.
Sau khi cách mạng chuyển hướng và vùng giải phóng của chúng ta ngày một mở rộng, trên tinh thần củng cố và giữ vững vùng giải phóng, T.Ư Ðảng cho thành lập các ngành kinh tế, trong đó có ngành giao thông vận tải (GTVT). Từ đó, Ban Vận tải T.Ư ra đời và chúng ta đề nghị chuyên gia, cán bộ Việt Nam sang giúp. Ðể hỗ trợ trực tiếp cho ngành GTVT của Lào, theo thỏa thuận của Chính phủ Việt Nam và T.Ư Mặt trận Lào yêu nước, năm 1964, Chính phủ Việt Nam cho thành lập hai Ban. Về giao thông có Ban 64 - tiền thân của Tổng Công ty xây dựng các công trình giao thông 8 (TCT 8) ngày nay. Về vận tải có Ban vận tải C - chuyên vận tải cho Lào. Sau khi được thành lập, hai Ban nêu trên đã hoạt động giúp đỡ Lào tận tình. Những con đường cũ, nát được củng cố, nâng cấp, nhiều con đường mới được mở ra, như đường 7, đường 8A, 8B, đường 9... nối liền từ Việt Nam sang Lào.
Trong thời kỳ bọn cướp trời Mỹ đánh phá ác liệt vùng giải phóng của chúng ta vào những năm 1967-1972, một trong những mục tiêu mà địch tập trung đánh phá là các tuyến vận tải đường thủy, đường bộ, nhằm ngăn chặn việc vận chuyển vũ khí, lương thực cho tiền tuyến và hậu phương của chúng ta. Ðể thực hiện ý đồ đó, địch đã sử dụng các loại máy bay, kể cả máy bay chiến lược B52, F105, F104. Nguy hiểm nhất là chúng dùng các loại máy bay trinh sát T28, F19, trực thăng đi tìm kiếm, phát hiện mục tiêu rồi gọi các máy bay đem bom loại 500kg, 250kg, bom bi, tên lửa đến đánh phá.
Công việc làm đường, mở đường, sửa chữa cầu đường để bảo đảm giao thông, vận chuyển, chủ yếu làm về đêm. Vì thế các chiến sĩ GTVT Việt Nam tại các tuyến đường trong vùng giải phóng Lào thực hiện khẩu hiệu: ngày địch phá, đêm ta xây, ta vận chuyển, tiếng hát át tiếng bom. Các chiến sĩ vận tải Lào - Việt đã kề vai sát cánh bên nhau dũng cảm làm nhiệm vụ vận chuyển vũ khí, lương thực cho tiền tuyến, đặc biệt là phục vụ cho chiến dịch Cánh đồng Chum - Xiêng Khoảng. Có những lúc bọn giặc trời đánh mạnh, đường hỏng, đường tắc, các chiến sĩ vận tải Lào cùng các chiến sĩ giao thông Việt Nam làm nhiệm vụ bảo vệ tại tuyến đường đó khẩn trương thu dọn mở đường dưới ánh pháo sáng và tiếng gầm rú của máy bay địch. Việc vận chuyển cũng chỉ tiến hành được vào ban đêm, dựa vào ánh sáng của những chiếc đèn gầm. Có những lúc địch hoạt động mạnh, ánh đèn gầm tù mù cũng bị phát hiện, các chiến sĩ lái phụ phải vận đồ trắng xuống đi trước xe, các lái xe cho xe chạy theo sự dẫn đường đó. Có lúc bom địch ném xuống lòng đường chưa nổ, buộc đoàn xe vận tải Lào - Việt phải dừng lại, các lái xe vào hầm trú ẩn, các đồng chí Việt Nam có gói bánh, các đồng chí Lào có gói thuốc đều chia sẻ cho nhau. Hình ảnh thân thương đó mãi in đậm trong ký ức của các chiến sĩ vận tải Lào - Việt Nam.
Suốt quá trình cách mạng dân tộc dân chủ, cũng như trong gần 40 năm xây dựng và bảo vệ đất nước, nhất là trong thời kỳ đổi mới toàn diện đất nước, mặc dù các đồng chí Việt Nam có muôn vàn khó khăn, nhưng Ðảng, Chính phủ và nhân dân Việt Nam đã hết lòng giúp chúng ta đào tạo đội ngũ cán bộ, chiến sĩ phát triển, vững mạnh cả về số lượng và chất lượng, có khả năng đưa cách mạng Lào giành được những thắng lợi như ngày nay. Nhiều thế hệ con cháu của nhân dân Việt Nam đã sang giúp nhân dân Lào chiến đấu giành độc lập, tự do. Nhiều đồng chí đã hiến trọn tuổi trẻ để phục vụ cho cách mạng Lào, coi Lào là quê hương thứ hai của mình. Trên khắp mọi nẻo đường của đất nước Lào, máu xương của các chiến sĩ quốc tế Việt Nam hòa quyện với xương máu của cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và nhân dân Lào, góp phần xây dựng nhiều trục ngang mới nối liền từ Việt Nam sang Lào, như đường 6 nối Thanh Hóa với Sầm Nưa, đường 7 nối Nghệ An với Xiêng Khoảng, đường 8 nối Hà Tĩnh với Bo-ly-khăm-xay, đường 9 nối Quảng Trị với Xa-văn-na-khệt, đường 12 nối Quảng Bình với Khăm Muộn và đường 18B nối Kon Tum với Ắt-ta-pư, giúp Lào phát triển nhanh chóng hội nhập quốc tế và khu vực, đó là con đường hạnh phúc của hai dân tộc Việt - Lào, một biểu tưởng tuyệt đẹp và bất tử của mối quan hệ đặc biệt Việt - Lào.
Quan hệ hữu nghị truyền thống, tình đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện giữa hai dân tộc Lào-Việt sẽ được thế hệ này đến thế hệ khác kế tục vun đắp, nhất định không một kẻ thù nào có thể phá vỡ nổi.
TRẦN DUY TÂN
(dịch và giới thiệu)