Nhạc sĩ Doãn Nho sinh ra ở làng Mọc, bên bờ sông Tô Lịch, 10 tuổi ông đã được gia đình cho học nhạc. Doãn Nho tham gia quân đội năm 1950, khi 17 tuổi, học Trường Lục quân Việt Nam khóa 6. Nhưng do biết chơi violon, ông trở thành nhạc công của Ðoàn Văn công Trường Lục quân. Những ca khúc đầu tiên ông viết là 'Bà mẹ nuôi', 'Tiến lên theo gương La Văn Cầu'... đã trở thành những tiết mục biểu diễn của đơn vị. Khi chuyển về Văn công Tổng cục Chính trị, ngày Giải phóng Thủ đô, bài hát 'Vui giải phóng' của ông cũng được sử dụng trong chương trình của đoàn. Nhưng tên tuổi của Doãn Nho được đông đảo công chúng biết đến là tác phẩm 'Sóng Cửa Tùng' - một tác phẩm hợp xướng về vùng đất 'lửa' Vĩnh Linh (Quảng Trị). Nhắc lại 'Sóng Cửa Tùng', những ký ức lại gợi về trong ông. Năm 1954, sông Hiền Lương, Vĩnh Linh là giới tuyến tạm thời của nam và bắc. Ông cùng đoàn nghệ sĩ ra thực tế chiến trường để sáng tác, 'Sóng Cửa Tùng' đánh dấu chuyến đi đầu tiên của Doãn Nho từ miền bắc vào mảnh đất miền trung và dừng lại bên bờ Hiền Lương. Nhạc sĩ Doãn Nho bảo, chuyến đi có những ấn tượng mạnh, xúc động, ông không chỉ viết được 'Sóng Cửa Tùng', mà là chuyến đi ghi dấu ấn cho ngôn ngữ âm nhạc của ông, đồng hành cùng với ông trong suốt chặng đường sáng tác. Giọng kể của ông chậm rãi, xúc động: 'Ðêm của năm 1954, hôm ấy, tôi đã ngồi bên bờ Hiền Lương đến 3 giờ sáng, xa xa là bọt trắng xóa, dân chài lưới từ thượng nguồn đổ ra Cửa Tùng để kịp đánh những mẻ lưới đầu tiên trong ngày. Trên mỗi chiếc thuyền, họ nổi lửa nấu ăn trước khi vào ngày mới tiến ra biển. Những đốm lửa từ con thuyền lóe lên trong đêm, lấp lánh như những ánh sao, râm ran là những câu hò, hòa vào những luồng gió mát hắt lên từ mặt sông... Cái tứ 'Chung tình Nam Bắc chung tình đấu tranh' đã nhập vào tâm hồn tôi. Và lúc ấy, tôi nghĩ thiên nhiên miền trung, con người Vĩnh Linh nằm trong câu hò Như Lệ, để cuối cùng viết ra hợp xướng 'Sóng Cửa Tùng'.
Cũng nhờ 'Sóng cửa Tùng', Doãn Nho đã được nghệ sĩ Nguyệt Ánh-một trong những gương mặt nghệ sĩ sáng giá của Ðoàn văn công Chính trị - nay là Nhà hát Ca múa Quân đội để ý. Tình yêu của hai nghệ sĩ cùng hoạt động trong lĩnh vực âm nhạc càng tô điểm cho hạnh phúc. Ðể có một tên tuổi của nhạc sĩ Doãn Nho đã và đang được công chúng nhiều thế hệ trân trọng và quý mến, có đóng góp không nhỏ của 'người đẹp Yết Kiêu'. Ðôi vợ chồng nghệ sĩ trở về Hà Nội sau những chuyến biểu diễn phục vụ chiến sĩ mặt trận B3 (mặt trận Tây Nguyên) năm 1967, rồi nhạc sĩ Doãn Nho sang Nga học thanh nhạc. Chín năm chồng xa quê hương, Nguyệt Ánh vượt qua bao khó khăn để nuôi dạy các con ăn học. Bù đắp cho những vất vả đó là sự thành đạt của nhạc sĩ Doãn Nho khi ông lấy bằng tiến sĩ về Lý luận âm nhạc, Giải thưởng Nhà nước (đợt 1) và sự trưởng thành của ba người con: Doãn Ánh Quyên, Doãn Nguyên và Doãn Mai Hương đều theo nghệ thuật.
Mỗi nghệ sĩ đều có những chặng đường nghệ thuật để lại dấu ấn với công chúng. Nhạc sĩ Doãn Nho cũng vậy. Thời trẻ, ông đã cống hiến cho âm nhạc những tác phẩm nổi tiếng như: 'Tiến bước dưới quân kỳ', 'Người con gái sông La', 'Năm anh em trên một chiếc xe tăng', 'Chiếc khăn piêu'... Nhưng có một quãng thời gian, công chúng từng thắc mắc rằng Doãn Nho không sáng tác nhiều như trước nữa. Ấy là khi người nhạc sĩ này đã có những 'tâm tư' khác: dành tâm huyết cho nhạc giao hưởng thính phòng. Ít lâu sau những thắc mắc đó, những tác phẩm ra đời như: Liên khúc giao hưởng ba chương mang tên 'Chiến thắng'; Thơ giao hưởng số 1 có tựa đề 'Tháng 8 lịch sử'; Thơ giao hưởng số 2 'Thánh Gióng'; Giao hưởng 'Khúc tưởng niệm'; Thanh xướng kịch 'Trảy hội đền Hùng'; Thanh xướng kịch 'Hoa Lư - Thăng Long' (chương 1); nhạc cho vở ba-lê 'Một thời và mãi mãi' dựa trên xúc cảm về hình tượng hai liệt sĩ trẻ là Nguyễn Văn Thạc và Ðặng Thùy Trâm... Và một tác phẩm 'ngốn' mất của nhạc sĩ Doãn Nho 10 năm và cũng là 'bản giao hưởng của đời ông' - như cách ông ví von: Thanh xướng kịch 'Hoa Lư -Thăng Long. Bài ca dời đô'.
Nhạc sĩ Doãn Nho tâm sự, ông sinh ra ở một làng nghề của Hà Nội nên mỗi câu chữ trong thanh xướng kịch này đều là tâm sự của ông về Hà Nội. Người Hà Nội trong thanh xướng kịch này đón vua với những sản vật do họ làm ra, từ các làng nghề truyền thống của đất kinh kỳ bao đời nay: nghề đúc đồng, nghề làm giấy gió, nghề rèn, nghề dệt lụa... Người dân sát cánh bên nhau đón vua Lý Công Uẩn khi thuyền tới bến và vua cho vời dân cùng sánh bước vào thành Ðại La. Còn gì đẹp hơn và tự hào hơn thế về người Hà Nội trong khung cảnh và tâm trạng náo nức như thế...
Thanh xướng kịch được viết dựa trên những cứ liệu lịch sử, trên nền truyện thơ của nhà thơ Tạ Hữu Yên, tác phẩm gồm bốn chương, mô tả trọn vẹn sự chuẩn bị và hành trình Lý Công Uẩn dời đô từ Hoa Lư về Ðại La theo con đường từ cố đô theo dòng Sào Khê ra tới Hoàng Long, ra sông Ðáy, đến Châu Giang vào sông Hồng, men theo sông Tô Lịch để vào thành Ðại La.
Năm nay, nhạc sĩ Doãn Nho đã bước sang tuổi 79. Ở tuổi này, người ta đã tự cho mình cái quyền nghỉ ngơi, nhưng với nhạc sĩ Doãn Nho lại không như vậy. Mỗi ngày ông vẫn dành 5-6 giờ cho âm nhạc. Ông quan niệm, với nghệ thuật thì không có tuổi tác. Sự cống hiến của ông với âm nhạc cũng chính là tấm gương để các con ông noi theo. Nhạc sĩ Doãn Nho tự hào cho chúng tôi biết rằng, trong thanh xướng kịch với quy mô đồ sộ và hoành tráng này, con trai của ông - nhạc sĩ Doãn Nguyên đã chỉ huy dàn nhạc giao hưởng trong vở diễn của cha mình. Có gì vui sướng hơn khi được hưởng trọn vẹn cái cảm giác cha - con cùng nhau góp sức trong sản phẩm âm nhạc độc đáo trên sân khấu.