Người đàn bà tẩm quất

Họ nghĩ rằng đằng sau tấm biển đó là những tệ nạn xã hội. Có một người phụ nữ mù do bị nhiễm chất độc da cam đã vượt qua mặc cảm, nghi ngờ để làm nên một cuộc sống mới từ nghề tẩm quất.

Người lính công binh năm ấy

Nghe nói đã lâu, nhưng phải đến những ngày nóng nảy lửa vừa qua tôi mới có dịp tìm đến cơ sở của bà Bình. Trước hết tôi muốn vào phòng tẩm quất để được thư giãn cho bớt mệt mỏi sau chặng đường dài. Và tôi đã được anh Nguyễn Ðức Vình - một người mù "đón tiếp". Ðây cũng là khoảng thời gian tôi đợi bà Bình - nhân vật chính đang trở về từ trụ sở của Hội người mù thành phố Phủ Lý (tỉnh Hà Nam). Lát sau bà về, ngôi nhà rộn rã tiếng cười của đứa cháu nội. Qua câu chuyện, tôi được hiểu hơn về con người, nghị lực của bà và những ngày tháng cơ cực đã qua.

Bà Lê Bình, Phó Chủ tịch Hội người mù thành phố Phủ Lý sinh năm 1955, là chiến sĩ của Ðoàn 559, Sư đoàn 473 công binh từ năm 1973 đến 1975. Là người từng chiến đấu trong chiến trường từ Khe Sanh đến A Sầu, A Lưới..., bà Bình ngày đó chẳng may bị nhiễm chất độc da cam. Bà kể rằng, ngày đó chất độc da cam ngay trên đầu. Sau năm 1977 bà phục viên và làm công tác đoàn ở địa phương, rồi lấy chồng, sinh được một con thì cháu mất vì chẳng thành hình người hoàn thiện, sức quá yếu. Bà còn bị một trận sốt rét thập tử nhất sinh, tưởng như khuỵu luôn không gượng dậy được. Ðó là hậu quả của chất độc da cam, khởi đầu cho những ngày tháng gian nan. Vào năm 1982, bà may mắn sinh được một cậu con trai, nhưng bé tẹo. Giờ cậu đã có gia đình riêng nhưng vẫn rất thấp bé. Cũng khoảng thời gian đó, mắt bà bị mù không nhìn thấy gì. Năm 1984, chồng bỏ khi con còn quá nhỏ, gia đình nhà chồng cũng hắt hủi, không quan tâm đến con dâu và cháu nội.

Không còn chồng, bị mù, lại bị đuổi ra khỏi gian nhà nhỏ không đồ đạc, bà Bình gần như hoàn toàn suy sụp. Vì đau đớn về tinh thần nên bà có những biểu hiện của một người tâm thần. Thi thoảng có người đi qua lại ném cho "người mẹ điên" một cái gì đó có thể ăn được để nuôi con. Thế rồi "bệnh điên" của bà tự khỏi. Con trai bà khi ấy đã lên năm tuổi. Ðêm nằm, bà nghĩ nung nấu, rằng phải sống khác, tự tìm cuộc sống cho mình chứ không thể buông xuôi số phận. Nhớ lại những ngày gian khổ đó, bà Bình xúc động: "Tôi từng nghĩ đến cái chết, rất tiêu cực, rất hận đời. Một số người bạn tôi đi buôn ở Lạng Sơn thấy mẹ con tôi lang thang, bảo lên Lạng Sơn họ xin việc cho. Nhưng người khác lại dọa lên đó sẽ bị đem bán. Cuối cùng tôi không dám đi nữa. Kỳ thực, tôi thấy mình sống không phải cuộc sống của con người. Cả ngày mẹ con được một bữa. Có lúc thấy nhà hàng xóm nấu ăn, mùi thơm bốc lên, tôi biết họ chuẩn bị ăn cơm, liền đẩy con vào gầm giường chơi để nó khỏi thèm. Có ai khổ như tôi ngày đó, buông cây súng, tưởng mình sẽ khác vì đất nước hết chiến tranh, nào ngờ đầy nước mắt"...

Lối thoát và cuộc sống khác của bà Bình là bán bánh mỳ và nước trà ngoài bến tàu bến xe. Cậu con trai dẫn đường cho mẹ trên các chuyến tàu nam - bắc, ngoài bến của thị xã. Cuộc sống lang thang đói khổ đó rồi cũng  đỡ vất vả hơn khi Nhà nước cấp tiền trợ cấp cho bệnh binh. Nhưng số tiền đó chỉ đủ đong gạo. Bà Bình gia nhập Hội người mù  Phủ Lý, bắt đầu có một cuộc sống khá hơn. Những đau đớn, khổ ải của quãng thời gian qua cho bà hiểu về sự sẻ chia đối với những người có số kiếp bất hạnh. Bà vẫn thấy mình sung sướng hơn nhiều người khác. Nhiều người đã mù lòa còn không có con, không biết người thân mình là ai. Từ năm 2000, bà được bổ nhiệm làm Phó Chủ tịch Hội người mù thị xã (nay là thành phố) Phủ Lý và đảm nhiệm cương vị đó cho đến nay. Năm 2002, các cấp các ngành, hàng xóm láng giềng và Hội người mù đã giúp bà xây dựng được ngôi nhà khá khang trang trên nền đất của căn phòng dột nát. Ngôi nhà đó giờ vừa là chỗ ở của gia đình bà, vừa là trụ sở tẩm quất giác hơi do bà mở ra để giúp những người mù khác có công ăn việc làm.

Bàn tay nhân ái

Giờ bà đã có cháu nội, đứa cháu kháu khỉnh xinh xắn làm vui cho cả  nhà. Con trai và con dâu đều làm đầu bếp cho một nhà hàng lớn ở Phủ Lý. Công việc của bà giờ bận rộn nhiều với cương vị của một người làm từ thiện. Cuộc sống có Hội, có anh em bè bạn, lại có thu nhập từ chính đôi bàn tay của mình, nên đã vui hơn. Ngay tại trụ sở của Hội, bà Bình còn tổ chức cho anh em hội viên làm tăm, chổi để bán. Số tiền đó thêm thắt vào tiền trợ cấp sẽ ổn định hơn. Bà lại đi học tẩm quất ở Trung ương Hội người mù, về dạy cho anh em trong Hội và mở một trụ sở hành nghề. Thấy làm ăn được, bà cho mở tiếp một cơ sở nữa tại nhà mình để những anh em khác cũng có việc làm. Bà khoe: "Nhà này đông khách lắm, khách thường là những cán bộ của thị xã. Họ đến sau những giờ làm việc căng thẳng, một phần cũng là để ủng hộ chúng tôi. Mỗi giờ tôi lấy 30 nghìn đồng, nhưng có người trả đến 50 nghìn đồng. Nhiều khi anh em chúng tôi phải "chạy sô", đến tận nhà tẩm quất cho một số ông bà già yếu là khách quen".

Qua những câu chuyện kể và sự chứng kiến của mình, tôi càng thêm cảm phục nghị lực và tinh thần vì người nghèo của bà Bình. Là người đã phải chịu đựng và vượt lên bao khó khăn, hẳn bà  hiểu rõ hơn ai hết điều gì đã khiến bà dang tay giúp đỡ những người khác có số phận còn khó khăn gấp nghìn lần mình. Ðó là trường hợp cụ Nhàn, sống trong ngôi nhà chừng sáu mét vuông, cách thị xã bốn cây số. Mồ côi từ lúc lên năm; lên tám tuổi lại bị mù cả hai mắt. Không làm được gì, ai cho ăn thì ăn, không thì nhịn. Hằng tháng sau khi lĩnh tiền trợ cấp, bà Bình lại đong mấy cân gạo đem cho. Hỏi mắt mù, bà làm sao đi được, và biết tìm người nghèo đó ở đâu mà giúp? Bà Bình nói: "Tôi chỉ bị mù, còn tai vẫn thính. Ði đâu thường có con dâu đưa đi. Tôi có thể nghe người này người kia nói. Còn phần lớn những người khó khăn đã vào Hội, thì ắt hẳn phải biết". Hay như trường hợp bà Long là thanh niên xung phong, trở về bị mắc bệnh đau yếu liên miên được bà Bình trợ cấp gạo hằng tháng, thi thoảng con cá, cân thịt. Với sự giúp đỡ đó, bà Bình cầu mong chia sẻ cho những người neo đơn, khổ ải đỡ cùng cực. Bà bảo, trên đời có biết bao thân phận như vậy, làm sao giúp đỡ được hết. Nhưng với những người khó khăn quanh mình mà mình còn có khả năng giúp thì không thể làm ngơ...

Anh Vình, chị Hà là những người cũng được bà giúp đỡ tận tình. Cả hai người đều có gia đình riêng và có con. Nhờ công việc tẩm quất mà họ có thu nhập để trang trải cuộc sống gia đình. Anh Vình coi bà như một người mẹ, nhờ có người mẹ nhân từ ấy mà anh đã nuôi được vợ được con, phần lợi từ làm ruộng vợ chồng anh để ra, phòng khi đau yếu. Với bà Bình, dù đã làm từ thiện, giúp đỡ nhiều người, nhưng bà thật khiêm tốn trước những lời khen. Bà bảo: "Tôi đã làm được gì to tát đâu, giúp được ai điều gì thì cố mà làm thôi".

Còn nhiều trăn trở

Hiện tại, bà và những hội viên của mình đang tập hát để đi dự hội thi "Tiếng hát từ trái tim". Nói vậy để thấy rằng hội viên ở đây được học, được làm việc và sinh hoạt vui vẻ. Bà Lê Bình còn có hướng cho hội viên đi học nghề, có thể là nghề tẩm quất, có thể là nghề mây tre đan, tùy khả năng. Hội viên còn nhiều người khó khăn cần được giúp đỡ. Nhưng cải thiện cuộc sống cho họ bằng chính đôi bàn tay lao động của họ mới là điều khiến bà luôn trăn trở. Ðoạn đường phía trước còn nhiều vất vả, khó khăn. Bởi những hội viên này sau khi học xong sẽ làm việc ở đâu, như thế nào, đầu ra sản phẩm giải quyết ra sao? Ðó là những thách thức không nhỏ đối với một người mù lòa. Càng hiểu vì sao, dù là người đã vinh dự được Trung ương Hội người mù tặng bằng khen; được các cấp các ngành tặng nhiều giấy khen, nhưng bà luôn tâm niệm: Phần thưởng cao quý nhất chính là nụ cười và hạnh phúc của những người bất hạnh, cô đơn chung quanh bà.

Những ngày này, sau khi xong việc ở trụ sở Hội trở về nhà, nếu đông khách, bà Bình lại xắn tay vào việc tẩm quất cho khách, giúp cho khách thư giãn, nói chuyện vui vẻ cùng khách. Cũng bởi vậy mà cơ sở của bà thường xuyên có tiếng cười.

Trăn trở của người đàn bà mù hành nghề tẩm quất thì rất nhiều. Song còn một suy nghĩ và mong mỏi khác của bà là hiện tại bà chỉ được hưởng trợ cấp bệnh binh chứ chưa được hưởng chế độ của nữ thanh niên xung phong nhiễm chất độc da cam. Ðã đôi lần bà làm đơn đưa lên nhưng chưa được trả lời thỏa đáng. Bà còn bảo, khi về Hà Nội, nếu có gặp người nào từng ở Ðoàn 559, Sư đoàn 473 công binh thì nhắn về Phủ Lý chơi với bà. Vâng, tôi muốn thông qua bài báo này gửi một lời nhắn ân tình ấy của bà Bình tới những người đồng đội của bà. Tôi cũng cầu chúc cho đôi tai bà thính hơn để nghe đôi tay linh hoạt của mình, hướng dẫn nó làm việc tốt hơn; chúc sức khỏe và hạnh phúc cho một con người giàu nghị lực và lòng nhân hậu.

NGUYỄN VĂN HOAN

Có thể bạn quan tâm