Cách đây 70 năm, một thanh niên 17 tuổi đã xuất thần làm bài thơ lục bát về cái bến Văn Giang (Quảng Trạch, Quảng Bình) quê hương mình. Bài thơ có đoạn kết dường như gửi gắm một ước mơ: "Đêm khuya gió lọt tâm hồn - Muốn tan theo ánh trăng buồn lên cao - Để ta tìm tới nguồn đào - Quê hương từ giã bay vào thiên thai". Đến giờ, ước mơ ấy đã thành sự thực ở tuổi 87. Đó chính là nhà thơ Gia Ninh.
Gia Ninh là con trai cụ cử nhân Hán học Phạm Gia Khánh. Với xuất thân như vậy, Gia Ninh đã sớm rời quê vào học tập tại xứ sở sông Hương, núi Ngự. Và thế là "Em bé xưa đi mãi/chưa về thăm sông Gianh", một câu thơ chứa chất nỗi ly hương của Gia Ninh.
Ở Huế, Gia Ninh học cùng Huy Cận. Học ở Huế, không ít người Quảng Bình làm thơ. Trước Gia Ninh, đã có những Lưu Trọng Lai (tức Lưu Kỳ Linh) anh ruột Lưu Trọng Lư, rồi đến Lưu Trọng Lư và Nguyễn Trọng Trí (tức Hàn Mặc Tử). Mỗi người đến với thơ bằng một con đường khác nhau.
Gia Ninh được biết thời đó từ một cách khác khá dị biệt. Vào một tối thứ bảy giữa năm 1938, ông bỗng "thấy" mơ màng một bóng mỹ nhân ngồi đối diện trước ông và nhìn đăm đắm bằng cặp mắt chiếu sáng. Trong trạng thái tâm thần ấy, Gia Ninh đã xuất thần bài thơ "Tâm hồn vô giới". Tờ "Ngày nay" đã in bài thơ này với lời giới thiệu hóm hỉnh của Thạch Lam. Bài thơ tuy không lọt vào "mắt xanh" của Hoài Thanh - Hoài Chân để có mặt trong tập "Thi nhân Việt Nam" như các nhà thơ Quảng Bình khác là: Lưu Kỳ Linh, Hàn Mặc Tử, Lưu Trọng Lư nhưng ta vẫn có thể xem Gia Ninh như một trong những nhà thơ đáng chú ý của Quảng Bình ngày ấy.
Mang tâm hồn ăm ắp những mộng mị trăng sao, nhưng Gia Ninh tham gia kháng chiến chống Pháp bằng những việc làm rất đời thường. Và ông đã từng đảm nhận chức Trưởng ty Thông tin Tuyên truyền Khánh Hoà, quyền Giám đốc Sở Thông tin Tuyên truyền Trung Bộ.
Ông từng làm biên tập viên các báo "Kháng chiến Khu 4", "Cứu quốc Liên khu 4". Những năm chống Mỹ, cứu nước, Gia Ninh đảm nhiệm biên tập thơ trên báo "Nhân Dân".
Công tâm và hết lòng, Gia Ninh đã phát hiện ra nhiều nhà thơ của thế hệ này. Nhưng riêng ông, ông rất dè dặt giới thiệu mình. Sau tập "Lớn lên" (NXB Văn học 1962), phải hơn hai mươi năm sau, Gia Ninh mới ra tập thứ hai là "Thời gian gọi" (NXB Tác phẩm Mới - 1983) và mãi đến 1995, ông mới ra "Tuyển tập Gia Ninh" (NXB Văn học).
Ít được giới thiệu như thế nhưng thời chống Mỹ, nhiều người vẫn thuộc bài thơ văn xuôi của ông viết về đảo Bạch Long Vỹ, rồi "Cô giao liên và những tiếng chim , "Mẹ thăm con sơ tán"... và đặc biệt là "Phố 325".
Gia Ninh về hưu vào lúc đất nước sau thống nhất vài năm, đời sống kinh tế gặp nhiều khó khăn. Nhưng tình yêu thơ và ý thức cách tân khiến cho ông không nản lòng giữa căn buồng phố 325 chật chội và nghèo khó "Đĩa hát thơ hôm nay/Không thể quay mãi trên những đường cày mòn vạch sẵn dưới cây kim".
Ông đi tìm thi tứ mới lạ trong tình yêu, trong vũ trụ trăng sao luôn ám ảnh ông như tiền định. Bài thơ "Trăng lên và đất lên" có tứ lạ không ngờ. Ông tự cho mình lên cung trăng và nhìn trái đất lên như từng nhìn vầng trăng lên từ trái đất. Cái tứ đã khẳng định, chẳng có nơi nào để nhìn ra vũ trụ đẹp như trái đất.
Từ bài thơ đầu tiên đến bài thơ cuối cùng đã cách nhau tới 70 năm, cách nhau "một Trường Sơn tuổi" như cách nói của ông, vẫn toát lên ở Gia Ninh một cốt cách nhẫn nại của một "phu chữ" đáng kính nể. Ông mê ánh sáng của những ngôi sao vừa vụt tắt. Có lẽ ở thơ ông cũng có thứ ánh sáng ấy.