Trong đó, ngành khai khoáng và sản xuất điện tiếp tục phát huy vai trò nền tảng. Sản lượng than đạt 10,738 triệu tấn; sản lượng điện đạt 9,770 tỷ kWh, bảo đảm nguồn cung năng lượng cho sản xuất và đời sống. Nổi bật là công nghiệp chế biến, chế tạo với mức tăng trưởng 28,09%, tiếp tục là động lực quan trọng của tăng trưởng GRDP. Trong 9 sản phẩm chủ lực, có 6 sản phẩm vượt kịch bản, tiêu biểu như xi-măng đạt 1,1 triệu tấn, dầu thực vật 87.000 tấn, loa, tai nghe 4,28 triệu sản phẩm. Lĩnh vực xây dựng tiếp tục duy trì nhịp tăng trưởng cao với mức tăng 25,71%, đạt 100% kịch bản. Tổng kế hoạch vốn đầu tư công năm 2026 được phân bổ đến hết quý I là 24.768 tỷ đồng, trong đó kế hoạch năm 2026 là 19.924 tỷ đồng. Dự kiến, giải ngân quý I đạt khoảng 5.016 tỷ đồng, tương đương 92% kịch bản.
Thành lập 18 tổ chuyên sản xuất vải thiều xuất khẩu ở Thanh Hà
Xã Thanh Hà (thành phố Hải Phòng) đã thành lập 18 tổ chuyên sản xuất vải thiều phục vụ xuất khẩu với tổng diện tích hơn 250 ha. Quy mô mỗi tổ sản xuất có diện tích trồng vải từ 10-15 ha, tập trung tại các thôn: Hào Xá, Lại Xá, Thúy Lâm, Tráng Liệt… Các tổ sản xuất đồng loạt áp dụng quy trình canh tác VietGAP, GlobalGAP nhằm đáp ứng đủ tiêu chuẩn xuất khẩu sang các thị trường có lợi nhuận cao. Địa phương đặc biệt chú trọng vệ sinh vườn, kiểm soát nguồn nước tưới, phòng trừ sâu bệnh; toàn bộ quy trình đều được ghi chép nhật ký đầy đủ, bảo đảm truy xuất nguồn gốc sản phẩm. Thanh Hà là một trong những vùng trồng vải trọng điểm của Hải Phòng với gần 940 ha, trong đó vải thiều đặc sản chiếm khoảng 500 ha. Hơn 10 năm qua, sản phẩm vải thiều của địa phương đã xuất khẩu ổn định sang các thị trường khó tính như Mỹ, Nhật Bản, Australia và EU. Nhờ áp dụng đồng bộ quy trình sản xuất sạch, an toàn, sản lượng vải đạt chuẩn xuất khẩu được doanh nghiệp bao tiêu với giá cao hơn thị trường từ 20-25%, góp phần nâng cao thu nhập cho người trồng.
Hải Phòng dự kiến tuyển hơn 48.700 học sinh vào lớp 10 công lập
Năm học 2026-2027, ngành giáo dục và đào tạo thành phố Hải Phòng giao chỉ tiêu tuyển sinh vào lớp 10 đối với các cơ sở giáo dục công lập trên địa bàn với tổng quy mô 1.091 lớp, tương ứng 48.746 học sinh, bằng khoảng 69% số học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở toàn thành phố.
Cụ thể, khối các trường trung học phổ thông được giao 961 lớp với 42.896 học sinh; trong đó khu vực phía đông 549 lớp với 24.356 học sinh, khu vực phía tây 412 lớp với 18.540 học sinh.
Đối với các trung tâm giáo dục nghề nghiệp-giáo dục thường xuyên và trung cấp, dự kiến 130 lớp với 5.850 học sinh; trong đó khu vực phía đông tuyển 1.980 học sinh, khu vực phía tây 3.870 học sinh.
Đối với các cơ sở giáo dục tư thục, dự kiến giao chỉ tiêu tuyển sinh vào lớp 10 năm học 2026-2027 với tổng quy mô 400 lớp, tương ứng 17.942 học sinh, tương đương khoảng 25,4% số học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở. Trong đó phía đông với 9.695 học sinh, đạt khoảng 26,3% số học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở cùng khu vực; khu vực phía tây 8.247 học sinh, đạt khoảng 24,4% số học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở cùng khu vực.
Bên cạnh đó, các trường cao đẳng, trung cấp trên địa bàn thành phố dự kiến tuyển sinh 3.938 học sinh, chiếm khoảng 6% số học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở toàn thành phố, góp phần đa dạng hóa lựa chọn học tập và phân luồng học sinh sau tốt nghiệp trung học cơ sở.
Ninh Bình đứng thứ 2 cả nước về tăng trưởng kinh tế trong quý I
Quý I/2026, kinh tế của tỉnh Ninh Bình tiếp tục phục hồi và phát triển, tăng trưởng kinh tế duy trì ở mức tăng hai con số. Tổng sản phẩm xã hội (GRDP) trên địa bàn toàn tỉnh trong quý I/2026 (theo giá so sánh 2020) ước tăng 11,63%, xếp thứ 2/34 tỉnh, thành phố; trong đó khu vực công nghiệp và xây dựng là động lực dẫn dắt tăng trưởng với mức tăng 16,19%. GRDP tỉnh Ninh Bình quý I/2026 (theo giá so sánh 2020) ước đạt 76.665 tỷ đồng, tăng 11,63% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản ước đạt 8.268 tỷ đồng tăng 3,27%, đóng góp 0,38 điểm phần trăm vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; khu vực công nghiệp và xây dựng ước đạt 36.263 tỷ đồng, tăng 16,19%, đóng góp 7,35 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ ước đạt 26.396 tỷ đồng, tăng 10,35%, đóng góp 3,61 điểm phần trăm; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm ước đạt 5.738 tỷ đồng, tăng 3,55%, đóng góp 0,29 điểm phần trăm.
Kết quả tăng trưởng đạt 11,63%. Với kết quả đạt được, Ninh Bình vươn lên đứng thứ 2 toàn quốc (sau Hà Tĩnh với mức tăng 12,42%) về tăng trưởng kinh tế trong quý I, cho thấy hiệu quả rõ nét trong công tác chỉ đạo, điều hành phát triển kinh tế, xã hội của hệ thống cấp ủy, chính quyền toàn tỉnh. Đồng thời, đây cũng là cơ sở quan trọng để Ninh Bình tiếp tục duy trì đà tăng trưởng cao, phấn đấu hoàn thành mục tiêu tăng trưởng hai con số trong năm 2026, đóng góp tích cực vào phát triển chung của vùng Đồng bằng sông Hồng và cả nước.