Nắng thiêu đốt, nóng nung rang như trong lò nướng. Rác lềnh bềnh từng tảng ngập kín mặt nước. Rác bám quanh chân cọc, gầm cầu, không trôi đi được. Phơi lộ thiên bao tháng năm, mưa gió, rác ngập ngụa vây bọc bốn bề, sặc sụa, ngạt thở. Con mương chẳng xứng với tên gọi Yên Hòa, uốn lượn vòng quanh mấy tòa chung cư khu đô thị mới, dẫn nước thải, thoát nước mưa. Thoạt đầu, quả đúng là: “Nao nao dòng nước uốn quanh. Nhịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang”. Dần dà, mương biến thành rãnh hứng nước thải với vô vàn miệng cống nhô ra, tống thẳng xuống lòng mương. Năm tháng trôi đi, nước dưới mương dường như vẫn đứng yên, không chảy. Bởi vì, cư dân bám dọc đôi bờ cứ “vô tư” quẳng rác, bất kể thứ gì. Từ gạch vụn, đất cát, túi ni-lông, vỏ nhựa tới chổi cùn, rế rách, thức ăn thừa, kể cả chất thải nhà vệ sinh. Cứ thế, lòng mương co hẹp dần, dẫu cho “nước chảy đá mòn” nhưng nước dưới mương thì chảy đi đâu? Hay chỉ ngâm cho rác “ngấu” thêm giữa những trận nóng có gió phơn như đổ lửa. Nắng, khổ đã đành, mưa rào trút xuống khổ sở gấp bội. Người dân bảo, ngày nắng trông con mương có vẻ… Yên Hòa, chứ mưa lớn một trận kéo dài vài giờ, nước dồn ứ, dâng tràn hai bờ mương ngập đến chân giường. Rác rưởi xộc vào nhà, nếu không kịp đóng chặt cửa thật khó tìm được lối ra.
Hàng vạn người dân đang sống vật vã bên những dòng kênh tiêu thoát nước ở Hà Nội đều chung một số phận, cảnh ngộ như nhau. Chưa kể những con mương nằm kề bên chợ. Rác chợ dọn không xuể, tiện tay quét xuống mương nhỏ, tắc nghẽn. Dưới cống ngầm gần các bến xe, bệnh viện, nơi sản xuất mây tre đan, giặt là, nhuộm vải, tưởng khuất mắt nhưng còn rùng mình hơn những bãi rác chất ngập trước mặt. Nạo vét, moi móc ngày đêm, nước vẫn tắc nghẹn. Chảy đi đâu khi mà trời lại đổ nước xuống không kịp vuốt mặt? Mương nổi, cống chìm có cũng như không, nước chẳng còn đường tiêu thoát, tất phải dâng lên ngập úng như lũ lụt. Đường phố biến thành sông suối. Nước trời không thể pha loãng, hòa tan nước thải của con người tích trữ trong cống mương. Nên ô-tô, xe máy, hàng vạn người phải lội bì bõm trong dòng nước đen đặc, hôi tanh do chính mình xả ra. Mỗi năm lội vài ba lần, năm nào cũng lội hóa quen. Giữa biển nước mênh mông, sóng vỗ xô ngả nghiêng. Xe máy nước ngập ngang hông, ô-tô nổi bềnh như xuồng máy. Ở những miệng cống, nước xoáy hun hút, công nhân ngụp lặn dầm mình moi móc một cách bất lực…
Giá như có thể “nghiêng” cả thành phố đổ nước ra ao hồ, sông ngòi, thì biển nước ấy chứa vào đâu? Bởi ba chục hồ lớn thì ngót một nửa ô nhiễm trầm trọng. Nước xanh rêu, váng nổi lều bều. Chẳng khác gì “chậu” lớn chứa nước thải và rác của các hộ dân. Chung quanh bờ hồ đã kè đá, thò thụt hàng chục miệng cống ngầm, cống nổi ngày và đêm rả rích nước thải. Có những hồ, sau khi đổ tiền nạo vét, bê-tông hóa trở thành hố ga tự nhiên. Bờ hồ kè lát đá như vỉa hè, một ngọn cỏ cũng không thể len lách, ngoi lên. Đáy hồ láng xi-măng, nước mưa đổ xuống không thẩm thấu, ngấm vào lòng đất. Ao hồ, cỏ cây cũng phải “hít thở” trao đổi chất như con người. Sau khi cải tạo, “cứng hóa”, nhiều ao hồ chết dần, chết mòn. Nước thải tù túng, phơi dưới nắng hè nóng bỏng, bốc mùi nồng nặc. Cá chết nổi trắng mặt hồ, vớt không hết. Rải rác khắp thành phố, ao hồ nằm kề nơi dân quần tụ, cho gió luôn tươi mới cuốn đi cái nóng oi bức cùng nỗi mệt nhọc. Là nơi cho trẻ nhỏ chạy nhảy, nô đùa ven bờ cỏ. Nơi người già chậm rãi từng bước nhàn tản. Nơi đôi lứa tâm sự… Còn bây giờ, rác nhiều tới mức những ngày cuối tuần quanh bờ hồ Gươm, thường có khoảng chục doanh nhân người Nhật Bản làm ăn ở Việt Nam lặng lẽ, nhẫn nại nhặt từng cọng rác, vỏ lon, chai nhựa. Mới đây, cả thành phố xôn xao, khi trên con mương Yên Hòa xuất hiện những người bạn nước ngoài dọn cống…
Có ai tính chi li, mỗi năm đổ ra bao nhiêu tỷ đồng, bao công sức để khơi thông mương cống, thu dọn rác thải. Công của dốc ra coi như công cốc, bởi nước thì phải chảy xuôi, nước chảy chỗ trũng. Từ kênh mương tiêu thoát, hồ ao, nước thải, nước trời tất phải đổ vào những dòng sông chảy trong lòng thành phố uốn quanh ven đô. Những con sông chỉ nhắc tên, lập tức gợi nỗi ám ảnh dai dẳng trong mỗi người từng một vài lần đi ngang qua. Chưa nói tới những ai cả đời sống bên sông Tô Lịch, Lừ, Sét, Nhuệ, Kim Ngưu, Kim Giang. Giờ nhìn mọi dòng sông lặng lờ, vật vờ, nước đục ngầu, đen quánh như dầu luyn, bốc mùi nồng nặc, biết là sông đang chết dần. Từ một con sông nhìn ra các dòng sông của Hà Nội đang chết dần từng ngày, nhiều người thoáng chạnh lòng, xót xa, tiếc nuối. Người qua, kẻ lại bịt mũi, nín thở, ngoảnh mặt. Những người cả đời sống ven hai bờ sông thì đỏ mắt mong ngóng dự án “tái sinh” các dòng sông. Chẳng biết chờ đợi đến năm nào. Chỉ biết, ngày và đêm, tất thảy hồ ao, kênh mương, sông ngòi thêm ngập ngụa, sặc sụa bùn rác, nước thải. Người ta từng có ý tưởng táo bạo: nghiêng sông Hồng dốc nước vào… thau rửa, tẩy sạch mấy dòng sông. Rồi ý tưởng ấy cũng chìm nghỉm dưới đáy hồ ao, sông mương. Không lẽ bó tay rồi hỏi trôi về đâu những dòng sông?