1. Bây giờ thì ông giáo già Nguyễn Ngọc Trí đã về với đất Giàng bên dòng Đạ Dâng, nhưng người Cơ Ho ở buôn làng Kon Phăng (xã Tân Hà Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng) vẫn nhớ về ông như một sự tri ân về người “tìm lại tấm da trâu đã mất”. Chuyện kể rằng, ngày xưa người Cơ Ho cũng rành cái chữ như người Kinh. Nhưng từ thời xa xưa đó người Kinh đã biết giữ cái chữ trên đá, trên gỗ tre, trên giấy còn người Cơ Ho chỉ biết lưu cái chữ lên tấm da trâu. Một ngày nắng trời, họ phơi tấm da trâu có ghi cái chữ lên tảng đá, do sơ ý nên thú rừng tha mất. Từ đó, người Cơ Ho mất luôn cái chữ. May mà có biết bao những người thầy cô giáo người Kinh gùi chữ lên cao nguyên, gieo lại cái chữ trong các buôn làng. Một trong số họ là ông giáo Trí.
Ông Trí quê ở Bắc Ninh. Năm 1959 học xong sư phạm trung cấp về dạy học ở Hải Hưng rồi năm 1963 tốt nghiệp đại học sư phạm và công tác tại Ty giáo dục Hà Tây. Năm 1963, thầy giáo ấy bỏ bút nghiên lên đường chiến đấu cho đến ngày thống nhất thì phục viên về quê cày cuốc. Cho đến một ngày ông Phan Hữu Giản, nguyên Bí thư Vùng kinh tế mới Hà Nội, tìm gặp và rước thầy Trí vào Lâm Đồng dạy học, dạy đến năm 1989 thì nghỉ hưu. Vừa nghỉ đã “dính” ngay chức chi hội trưởng Chữ thập đỏ của xã Đan Phượng. Một lần trưởng thôn K’Tiên ra kêu với ông là dân buôn Con Phăng đang đói, ông Trí mang gạo vào cứu trợ. Sau lần đó ông nghĩ, nguyên nhân sâu xa dân đói bắt đầu từ cái dốt. Nổi máu nghề, ông lại vác ba lô vào tổ chức lớp học “xóa mù”. Thầy Trí cùng bà con chặt tre nứa dựng lên lớp học và huy động người dân đi học. Lớp người lớn học ban đêm sau giờ lên nương rẫy với 105 người, lớp trẻ con ban ngày với 40 cháu. Thầy không chỉ dạy chữ, còn dạy bà con thay đổi những thói quen, tập tục lạc hậu, thay đổi cách sống và cách làm ăn.
Bây giờ thầy Trí không còn nhưng trở lại Con Phăng tôi đã chứng kiến nhiều người dân trong buôn đã đọc thông, viết thạo, biết thảo lá đơn, biết tính được hạt lúa về nhà. Người Cơ Ho đã tìm lại được “tấm da trâu bị mất”, người chỉ đường giúp họ đi tìm là thầy giáo già Nguyễn Ngọc Trí đến từ đất bắc xa xôi.
Tôi cũng nhớ về thầy giáo Nguyễn Xuân Giáp, người từ chối những điều kiện thuận lợi, tự nguyện xa gia đình, quê hương, một mình ở lại với những đứa trẻ nghèo, với buôn làng Mạ. Ở nơi ấy, nơi rừng sâu Đăng Đừng (Lâm Đồng) có những những bậc phụ huynh không biết nói lời cảm ơn nhưng luôn chia sớt cho thầy những bó rau rừng tự hái, miếng thịt con thú mới săn. Có những đứa học trò da nâu, tóc xoăn hồn nhiên như đất, ngày Nhà giáo chỉ thập thò ngoài cửa phòng thầy giáo và ngọng nghịu lời chúc với bó hoa dại trên tay.
Trong câu chuyện, thầy Giáp vẫn không thể nào quên cảm xúc trong cái lần chia tay không thành, ngày mà thầy được chuyển công tác về với quê hương, với vợ con, với đồng bằng. Đã tạm biệt buôn làng, mái trường, đồng nghiệp, học trò trong nước mắt. Đã khoác ba lô rời xa Đăng Đừng chừng vài ba cây số nhưng bỗng phía sau tiếng pê-đan xe đạp kót két dưới bàn chân không có dép của thằng bé K’Nhật đã níu thầy ngoái lại. Những vòng bánh xe nặng nề, trầy trật trên đoạn đường lầy lội và tiếng gọi thổn thức của cậu học trò lớp 5: “Thầy ơi!...Thầy ở lại với chúng con!...”. Tiếng gọi ấy đã làm lòng thầy xao động, thôi thúc thầy thêm một lần ở lại với những đứa học trò nhỏ thân thương, với bà con Châu Mạ ở buôn vùng sâu Đăng Đừng cho đến tận ngày tuổi già sức yếu…
2. Chuyện khá lâu rồi nhưng thật khó quên. Trong chuyến công tác vùng sâu không may gặp lũ rừng, tôi đã có một lần ở lại qua đêm với ngôi trường ấy. Đó là một phân hiệu mới lập của Trường tiểu học Đạchais (nay là xã Lạc Dương), một căn cứ trong cả hai thời kháng chiến. Bên này là Bidoup, bên kia là Jaric. Hai dãy núi sừng sững như những nóc nhà khổng lồ vây hãm mọi tầm nhìn. Mái trường tre nứa nhỏ nhoi chơi vơi như tổ chim treo bên chân núi. Dọc theo suối Liêng Sú, buôn K’Lon K’Lăn của đồng bào người Chil nằm lọt thỏm giữa thung lũng ngút ngàn cỏ tranh. Đảm trách phân hiệu chỉ có hai cô giáo người Kinh là Đỗ Thị Liên và Nguyễn Thị Chung. Muỗi, vắt, rắn, rết, những trận mưa rừng và những cơn sốt rét. Bữa ăn mỗi ngày đạm bạc với gạo hẩm, rau tàu bay và vài con cá khô mốc. Không điện, không báo chí, tivi hay radio. Đêm về, rừng núi lạnh lẽo, muông thú đi hoang, mang toác, vượn hú, cú kêu rả rích. Không gian não lòng.
“Hồi đầu mới vào đây, đêm nào hai đứa cũng ôm nhau mà khóc. Trường nằm bên này suối, lọt thỏm giữa rừng, xa dân. Nhiều đêm không chợp mắt được vì sợ. Lâu dần rồi cũng quen” - cả Liên và Chung đều nói. “Cũng quen”, đó chỉ là cách nói để tự trấn an. Động lực giúp những cô giáo trẻ ấy vượt qua khó khăn chính là trách nhiệm và tình yêu nghề nghiệp, là tấm lòng đối với những đứa trẻ vùng sâu vốn đã chịu muôn nỗi thiệt thòi. Hai cô giáo người Kinh đã lo lắng cho các em từng nét bút, phép tính, dạy chữ và dạy làm người. Khoảng cách từ phân hiệu về trường chính gần 40 km, về Phòng giáo dục huyện Lạc Dương gần 100 km. Chẳng mấy khi có thanh tra, kiểm tra, nhưng họ vẫn thực hiện các thao tác chuyên môn đầy đủ, vẫn làm tốt chức trách người thầy. Suốt buổi chiều và đêm hôm ấy, sau những trận mưa lớn, cơn lũ rừng ầm ào đổ về. Chỉ sau một đêm, những ngọn núi hình như nhỏ lại, những con suối nhỏ đã biến thành dòng sông chảy xiết. Ngôi trường như ốc đảo. Buôn làng là một dải mờ mờ trong mưa với những mái tranh sũng nước. Hai cô giáo dậy từ lúc tảng sáng. Họ ngồi bên vách núi nhìn về phía buôn làng. Những đứa trò nhỏ từ bên kia suối cất tiếng vọng sang. Hai cô giáo nhìn dòng nước xiết mà nước mắt lăn dài trên má…
3. Trong những chuyến rong ruổi tới những buôn làng xa xôi giữa rừng sâu, núi thẳm trên mảnh đất cực nam Tây Nguyên, một trong những ấn tượng đối với chúng tôi là những mái trường nhỏ bé bên vách núi hoang vu hay giữa thung lũng heo hút. Giữa nơi thâm sơn, cùng cốc vẫn rộn rã tiếng trẻ học bài và sáng lên hình ảnh những người thầy ngày đêm vượt qua gian khổ miệt mài vì sự nghiệp trồng người. Ở nơi ấy không có dạy thêm, học thêm, ít khi xảy ra tệ nạn học đường mà chỉ có những tấm lòng nhân ái, cảm thông và sẻ chia.