Khi công nghiệp âm nhạc vận hành trong “vùng xám” và bài học từ các vụ khởi tố hình sự về bản quyền

Khi công nghiệp âm nhạc vận hành trong “vùng xám” và bài học từ các vụ khởi tố hình sự về bản quyền

Sự việc khởi tố đồng loạt 5 vụ án hình sự về bản quyền âm nhạc đang thu hút sự chú ý của dư luận, trong bối cảnh sở hữu trí tuệ đang là một trong những mối quan tâm hàng đầu hiện nay của cả cơ quan chức năng và công chúng. Chúng tôi xin giới thiệu bài viết của Luật sư Trần Tám (IPcom) về vụ việc từ góc độ người làm luật.

Việc Bộ Công an đồng loạt khởi tố 5 vụ án hình sự về xâm phạm quyền tác giả và quyền liên quan đang được bình luận rộng rãi. Nhìn kỹ hơn vào bản chất hành vi của các đơn vị bị khởi tố, có thể thấy đây không phải một câu chuyện, mà là ít nhất hai câu chuyện khác nhau về bản chất, và chính sự khác nhau đó mới cho chúng ta thấy trạng thái thực sự của cả một ngành công nghiệp giải trí đang vận hành với văn hóa tuân thủ bản quyền còn rất nhiều lỗ hổng.

Một đợt khởi tố và hai mô hình kinh doanh

Nhìn vào danh sách 5 vụ án, có thể nhận ra ngay hai nhóm khác nhau về mô hình kinh doanh và bản chất hành vi. Nhóm thứ nhất, tiêu biểu là BH Media, là đơn vị kinh doanh quyền số chuyên nghiệp, vận hành theo mô hình thu gom quyền đối với bản ghi âm và khai thác hệ thống nhận diện nội dung tự động của nền tảng để tạo ra dòng tiền liên tục. Đây là mô hình kinh doanh đòi hỏi hiểu biết sâu về cả hệ thống pháp lý lẫn hệ thống kỹ thuật của nền tảng, và những người điều hành nó biết rất rõ ranh giới pháp lý mà họ đang vận hành chung quanh.

box-bh1.jpg

Nhóm thứ hai, bao gồm Mây Sài Gòn, Lululola Entertainment, 1900 Group và Trung tâm Giọng ca để đời, là các đơn vị tổ chức biểu diễn live, phòng trà, sân khấu acoustic. Mô hình kinh doanh của họ là tổ chức show, ghi hình buổi diễn, chuyển bản ghi lên nền tảng số và khai thác doanh thu quảng cáo. Đây là mô hình mà hàng trăm đơn vị tương tự trên cả nước đang vận hành.

Sự khác biệt giữa hai nhóm đặt ra hai câu hỏi hoàn toàn khác nhau. Với nhóm thứ nhất, câu hỏi là về ranh giới giữa khai thác quyền hợp pháp và lạm dụng vùng xám một cách có chủ ý. Với nhóm thứ hai, câu hỏi quan trọng hơn nhiều là tại sao cả một ngành công nghiệp giải trí lại có một chuẩn ngầm vận hành trái với quy định pháp luật và chuẩn ngầm đó đã tồn tại và được củng cố trong bao lâu trước khi có một sự kiện đủ lớn để phá vỡ nó.

Quyền biểu diễn và quyền khai thác nội dung số, hai loại quyền khác nhau

Trong lĩnh vực kinh doanh thương mại dựa trên việc sử dụng tác phẩm sáng tạo của người khác để tạo ra doanh thu, nghĩa vụ tìm hiểu và tuân thủ pháp luật về sở hữu trí tuệ là nghĩa vụ của chính đơn vị kinh doanh, không phụ thuộc vào việc có ai đó thông báo hay giải thích cho họ hay không.

Đây là nguyên tắc cơ bản của pháp luật, các đơn vị kinh doanh có nghĩa vụ phải biết, và việc không biết không phải lý do được miễn trừ trách nhiệm, đặc biệt với doanh nghiệp kinh doanh chuyên nghiệp trong lĩnh vực liên quan trực tiếp đến quyền sở hữu trí tuệ.

box-xinphep.jpg

Cụ thể, khi một đơn vị tổ chức một chương trình âm nhạc, họ có thể liên hệ với các tác giả hoặc với tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả để sử dụng các tác phẩm âm nhạc, họ đang xin phép cho quyền biểu diễn công khai (quyền biểu diễn live), tức quyền trình diễn tác phẩm trước khán giả trực tiếp tại sự kiện. Và nếu ghi hình buổi biểu diễn đó và đăng tải lên nền tảng số để khai thác doanh thu quảng cáo thông qua lượt streaming, họ lại thực hiện một chuỗi hành vi hoàn toàn khác, bao gồm sao chép kỹ thuật số, sản xuất bản ghi, phân phối và truyền đạt tác phẩm đến công chúng trên môi trường số, thậm chí có thể đồng bộ hóa trong phim ảnh và quảng cáo. Mỗi hành vi trong chuỗi đó đòi hỏi sự cho phép riêng và phải được thỏa thuận thù lao riêng với chủ thể quyền tương ứng.

Về mặt kỹ thuật pháp lý, hoàn toàn có thể thỏa thuận cả hai phạm vi quyền này trong cùng một hợp đồng với chủ sở hữu quyền tác giả (hoặc đại diện của họ) và trong cùng một hợp đồng với nghệ sĩ biểu diễn. Con đường tuân thủ không phức tạp đến mức không thể thực hiện được, không có bất kỳ rào cản kỹ thuật hay thủ tục nào ngăn cản điều đó. Vấn đề là phần quyền ghi hình và khai thác nội dung số bị bỏ qua không phải vì không thể đưa vào hợp đồng mà vì đưa vào thì chi phí tăng lên và bài toán kinh doanh trở nên kém hấp dẫn. Và đó là sự lựa chọn có ý thức, có chủ đích, không thể không biết.

Đây chính là cấu trúc sai lệch đang vận hành khi mà phần doanh thu từ khai thác số là doanh thu tăng thêm mà không tốn thêm chi phí sản xuất vì nội dung đã được tạo ra từ buổi biểu diễn trực tiếp, trong khi đó nghĩa vụ trả tiền bản quyền tương ứng bị bỏ qua. Khi đơn vị nào đó trong ngành thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đó, họ đang tự nguyện chuyển một phần doanh thu đó về cho chủ sở hữu quyền, trong khi đơn vị cạnh tranh bên cạnh không làm vậy và giữ lại toàn bộ. Đây không nằm ở bài toán đạo đức mà là bài toán cạnh tranh, và trong một thị trường mà vi phạm đã trở thành chuẩn ngầm, tuân thủ trở thành bất lợi cạnh tranh.

Quyền lợi của nghệ sĩ bị bỏ ngỏ vì thiếu tư vấn pháp lý

Khi nghệ sĩ ký hợp đồng biểu diễn tại một đêm nhạc, hợp đồng đó thường chỉ thỏa thuận về cát-xê cho buổi biểu diễn trực tiếp. Quyền ghi hình và khai thác số ít khi được đề cập tường minh, một phần vì đơn vị tổ chức muốn né tránh chi phí phát sinh, nhưng cũng một phần vì bản thân nghệ sĩ và người đại diện của họ thường không nhận ra đây là một phạm vi quyền độc lập cần được thỏa thuận riêng. Họ nghĩ rằng quyền của mình dừng lại ở buổi biểu diễn trực tiếp, và những gì xảy ra với việc khai thác bản ghi trên nền tảng số sau đó là chuyện của đơn vị tổ chức.

box-quyenloi.jpg

Thực tế pháp lý lại khác hoàn toàn. Người biểu diễn là chủ thể của quyền liên quan đối với buổi biểu diễn của mình. Khi buổi biểu diễn đó được ghi hình và khai thác thương mại trên nền tảng số, người biểu diễn có quyền được hỏi ý kiến và được thỏa thuận thù lao riêng cho phần khai thác đó, độc lập với cát-xê biểu diễn ban đầu. Khi điều này không xảy ra, nghệ sĩ không chỉ bị thiệt hại về quyền lợi kinh tế mà còn mất đi khả năng kiểm soát việc hình ảnh và giọng hát của mình được sử dụng như thế nào, trong bao lâu và trên những nền tảng nào.

Tương tự như đơn vị tổ chức, nghệ sĩ hoạt động chuyên nghiệp cũng có nghĩa vụ hiểu rõ quyền của chính mình. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy phần lớn nghệ sĩ Việt Nam hoạt động mà không có tư vấn pháp lý thường xuyên về sở hữu trí tuệ, và hệ quả là họ liên tục ký các hợp đồng không bảo vệ đầy đủ quyền lợi của mình trong môi trường số. Đây là vấn đề cần được ưu tiên giải quyết không chỉ bằng nhận thức mà còn bằng các dịch vụ tư vấn pháp lý đủ tiếp cận và đủ chuyên biệt cho cộng đồng nghệ sĩ.

Khi tuân thủ bị coi là bất lợi cạnh tranh

Để hiểu tại sao văn hóa tuân thủ bản quyền trong ngành giải trí live bị xói mòn theo thời gian, cần nhìn vào cấu trúc kinh tế của mô hình kinh doanh này.

Một đơn vị tổ chức đêm nhạc, tổ chức thu bản ghi và khai thác bản ghi trên nền tảng kỹ thuật số, họ đang có hai nguồn doanh thu, doanh thu từ bán vé sự kiện trực tiếp và doanh thu từ lượt xem tích lũy trên nền tảng số theo thời gian. Chi phí để tạo ra nguồn doanh thu thứ hai gần như bằng không nếu bỏ qua nghĩa vụ bản quyền, vì nội dung đã được sản xuất phục vụ sự kiện trực tiếp. Khi thỏa thuận đầy đủ quyền ghi hình và khai thác số với cả chủ thể quyền lẫn từng nghệ sĩ biểu diễn, chi phí đó tăng lên đáng kể.

box-tuanthu.jpg

Điều nguy hiểm hơn là khi một đơn vị trong ngành chọn tuân thủ đầy đủ trong khi các đơn vị cạnh tranh không làm vậy, đơn vị tuân thủ đang tự đặt mình vào thế bất lợi về chi phí. Trong một thị trường mà vi phạm đã trở thành chuẩn ngầm, thì tuân thủ trở thành bất lợi về cạnh tranh.

Các vụ khởi tố lần này chính là lực phá vỡ sự cạnh tranh bất công bằng đó. Khi rủi ro của việc không tuân thủ tăng lên đột ngột và đáng kể, bài toán kinh tế của cả ngành thay đổi. Đây là lý do tại sao thực thi nghiêm minh là điều kiện cần, không thể thiếu, để tạo ra sự thay đổi thực chất trong văn hóa tuân thủ của ngành.

Ngành công nghiệp âm nhạc sẽ điều chỉnh như thế nào?

Nếu sau đợt khởi tố này, tất cả các đơn vị tổ chức biểu diễn live tại Việt Nam đều thực hiện đầy đủ nghĩa vụ bản quyền cho cả phần biểu diễn trực tiếp và phần khai thác số, bài toán kinh doanh của cả ngành sẽ thay đổi. Chi phí sẽ tăng lên ở mọi đơn vị. Một số mô hình kinh doanh hiện nay, vốn được xây dựng trên giả định chi phí bản quyền thấp, sẽ cần được xem xét lại về tính khả thi.

box-coche.jpg

Đây không phải lý do để không tuân thủ, nhưng là lý do để đặt câu hỏi nghiêm túc hơn về cơ chế cấp phép hiện hành. Khi tiền bản quyền cho quyền biểu diễn được tính theo công thức cố định cho một buổi diễn nhưng doanh thu khai thác số lại tích lũy theo lượt xem trong nhiều năm, cần có cơ chế cấp phép tích hợp và linh hoạt hơn, phù hợp với mô hình kinh doanh lai giữa live và số đang ngày càng phổ biến và ngày càng tạo ra nhiều giá trị kinh tế hơn.

Thực thi và kiến tạo, hai việc phải làm đồng thời

Các vụ khởi tố lần này là cần thiết và là bước đi đúng hướng. Nhưng thực thi nghiêm minh chỉ có giá trị bền vững khi đi kèm với việc kiến tạo một môi trường pháp lý và thể chế khiến tuân thủ trở thành lựa chọn hợp lý về mặt kinh tế, chứ không phải gánh nặng khiến doanh nghiệp phải tìm cách né tránh.

box-thucthi.jpg

Điều đó đòi hỏi ít nhất hai việc song song. Một mặt, nâng cao năng lực thực thi quyền sở hữu trí tuệ trên môi trường số một cách toàn diện, bao gồm năng lực của cơ quan tố tụng, năng lực của các tổ chức quản lý tập thể trong việc giám sát và bảo vệ quyền lợi của thành viên trên nền tảng số, mặt khác việc nâng cao văn hóa tuân thủ pháp luật sở hữu trí tuệ trong cộng đồng nghệ sĩ và doanh nghiệp giải trí cũng quan trọng không kém, không phải chỉ bằng thông qua tuyên truyền, đào tạo, mà còn thông qua các dịch vụ tư vấn pháp lý đủ tiếp cận và đủ chuyên biệt để thay đổi hành vi thực tế.

Công nghiệp âm nhạc phát triển bền vững không nên xây dựng bằng cách xử lý vi phạm, mà bằng cách tạo ra một môi trường nơi tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ là điều kiện tự nhiên để vận hành. Các vụ khởi tố lần này, dù quan trọng và cần thiết, mới chỉ là điểm bắt đầu của một quá trình dài hơn và phức tạp hơn trong tương lai.

Có thể bạn quan tâm