Khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường ở Hà Nội

Thiếu quy hoạch, thiếu cán bộ, thiếu cơ chế

Hiện nay, mỗi ngày, ước tính trên địa bàn TP Hà Nội phát sinh khoảng 3.376 tấn chất thải rắn sinh hoạt và công nghiệp. Sau khi mở rộng địa giới hành chính, tại khu vực Hà Tây (cũ), mới chỉ có Hà Ðông, Sơn Tây, huyện Chương Mỹ và bảy xã huyện Thạch Thất được thu gom rác. Những nơi còn lại, hàng chục nghìn tấn rác thải chưa được xử lý đang nằm rải rác cạnh khu dân cư, đường giao thông, hồ ao... Hệ thống thoát nước là thoát chung cho nước thải và nước mưa. Hai trạm xử lý nước thải thí điểm vừa được xây dựng tại Trúc Bạch và Kim Liên có tổng công suất khá khiêm tốn: 6.000 m3/ngày, đêm trong khi tổng lượng nước thải sinh hoạt khu vực nội thành lên tới gần một triệu m3/ngày, đêm. Theo Phó Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Vũ Hồng Khanh, Hà Nội đang thiếu các công trình phục vụ lợi ích công cộng về môi trường như hệ thống xử lý nước thải ở các bệnh viện, các trạm quan trắc, thu thập dữ liệu môi trường... nhưng chưa có hướng đầu tư. Ðầu tư hằng năm cho các hoạt động bảo vệ môi trường của thành phố mới chiếm 0,8% GDP. Trong khi đó, số dư của Quỹ Bảo vệ môi trường Hà Nội chỉ hơn 20 tỷ đồng. Nguồn vốn bổ sung vào quỹ hằng năm chưa tới hai tỷ đồng (từ nguồn thu phí nước thải).

Mỗi năm, Sở Tài nguyên và Môi trường thanh tra, kiểm tra được khoảng 120 cơ sở. Năm 2008, qua kiểm tra phát hiện 87 cơ sở vi phạm Luật Môi trường, xử phạt 18 cơ sở với số tiền là 307 triệu đồng, 69 cơ sở còn lại sở đang tiến hành xử phạt. Những con số này thấp hơn nhiều so với thực tế. Nhiều năm nay, chưa có cơ sở gây ô nhiễm nào ở Hà Nội bị buộc ngừng hoạt động. Theo Trưởng phòng Kiểm soát môi trường thuộc Chi cục Bảo vệ môi trường Hà Nội Ðỗ Ngọc Hải: Số cơ sở cần kiểm tra quá lớn trong khi lực lượng ít. Ở các quận, huyện, chưa có cơ chế thanh toán cho việc thuê các cơ quan chuyên môn về kiểm tra, đo đạc những cơ sở có dấu hiệu ô nhiễm. Tại các cuộc họp HÐND, nhiều đại biểu cho rằng, một trong những nguyên nhân khiến tình trạng ô nhiễm môi trường ngày một trầm trọng hơn là do chế tài xử phạt hiện quá nhẹ, không đủ tính răn đe. Trưởng phòng Cảnh sát Môi trường Trần Trọng Bình cho biết: Thực tế là công tác hậu kiểm sau khi cấp giấy chứng nhận về môi trường cho doanh nghiệp chưa được chú trọng. Bên cạnh đó, nhiều doanh nghiệp, cơ sở sản xuất sau khi bị lực lượng chức năng phát hiện vi phạm, xử phạt vẫn "vô tư" tái phạm, thậm chí xem đó là cơ may vì nghĩ rằng: Lực lượng chức năng kiểm tra, xử phạt rồi không quay lại nữa. Thà bị phạt vài chục triệu đồng còn hơn đầu tư hệ thống xử lý nước thải hàng tỷ đồng! Ngay tại một số cơ sở sản xuất gây ô nhiễm nghiêm trọng cần phải di dời khẩn cấp nhưng gần chục năm nay vẫn cứ nhùng nhằng, chờ đợi được hưởng các ưu đãi. Thời gian qua, một số khu, cụm, điểm công nghiệp chưa có hệ thống xử lý nước thải nhưng cơ quan chức năng vẫn cho sản xuất.

Tất cả các quận, huyện  ngoại thành đều chưa có các thiết bị, máy móc để kiểm tra, phát hiện ô nhiễm. Tại các phường, xã, thị trấn, cán bộ quản lý trật tự đô thị, xây dựng kiêm nhiệm các công việc về môi trường nên lĩnh vực này gần như bị bỏ trống. Tại huyện Hoài Ðức, toàn bộ rác thải, nước thải ở các làng nghề chưa được thu gom, xử lý. Huyện còn sáu xã, thị trấn không có bãi chôn lấp rác hoặc bãi tập kết rác tạm thời do phần lớn diện tích đất bị thu hồi để xây dựng các khu đô thị. Kinh phí cho công tác bảo vệ môi trường cũng quá ít ỏi.

Theo Quyết định số 64/2003/QÐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, trên địa bàn Hà Nội có 25 cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng phải được xử lý. Ðến nay, sau bảy năm, vẫn còn tám cơ sở chưa hoàn thành. Còn theo danh mục do UBND thành phố lập năm 2000, khu vực nội thành có 142 cơ sở nhà đất với tổng diện tích là 260,15 ha phải di chuyển do gây ô nhiễm môi trường, không còn phù hợp quy hoạch. Sau gần 10 năm, mới di dời được 22 cơ sở. Nguyên nhân chính dẫn tới sự chậm trễ trên là do chưa có những cơ chế, chính sách ưu đãi, khuyến khích về mặt đất đai, tài chính cho doanh nghiệp di dời. Như trường hợp Công ty cổ phần cồn, rượu Hà Nội, sau năm năm bàn thảo với đối tác do UBND thành phố giới thiệu, đến tháng 5-2007 mới thống nhất được kinh phí và ký hợp đồng hỗ trợ, đền bù. Giám đốc Công ty cổ phần cồn, rượu Hà Nội Hồ Văn Hải cho biết: Khó khăn tài chính cộng thêm cơ chế thực hiện dự án kéo dài, hồ sơ thay đổi nhiều lần nên việc di chuyển nhiều năm vẫn chưa xong. Với Công ty TTHH Nhà nước một thành viên Dệt 8-3, việc di dời vướng mắc chủ yếu từ việc xác định giá trị, quyền khai thác mảnh đất 20 ha (từng được xác định trị giá 4.500 tỷ đồng) vốn là nhà xưởng của công ty. Trong khi đó, việc di chuyển Nhà máy bê-tông Sung Gei Way (Hà Ðông) chưa thực hiện được là do địa điểm nhà máy chuyển đến (KCN Ðồng Mai) chưa được giải phóng mặt bằng...

Theo Trưởng phòng Kiểm soát môi trường, thuộc Chi cục Bảo vệ môi trường Hà Nội, Ðỗ Ngọc Hải: Công tác quản lý nhà nước về môi trường ở thành phố đang phân tán. Như lĩnh vực làng nghề do Sở Công thương quản lý; rác thải, nước thải do Sở Xây dựng quản lý; vận chuyển đất đá, vật liệu xây dựng do Sở Giao thông vận tải quản lý... Trong khi đó, việc bảo vệ môi trường lại không có cơ quan, đơn vị nào chịu trách nhiệm chính. Vì vậy, dẫn tới quy hoạch, đầu tư thiếu đồng bộ và đặc biệt là dù ô nhiễm môi trường rất bức bối nhưng không biết quy trách nhiệm cho ai.

Cần vào cuộc quyết liệt và chính sách đồng bộ

Phó Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Vũ Hồng Khanh cho rằng: Cần phải làm rõ thực trạng, giải pháp xử lý ô nhiễm môi trường cũng như kết quả xử lý vi phạm. Phải có người chịu trách nhiệm khi địa bàn xảy ra ô nhiễm. Hà Nội cần quyết liệt, thường xuyên hơn trong việc ngăn chặn, xử lý vi phạm Luật Môi trường, kiên quyết đóng cửa những cơ sở gây ô nhiễm nghiêm trọng, kiểm tra, giám sát theo trọng tâm, trọng điểm, tập trung vào những lĩnh vực "nóng" nhất như rác thải, nước thải, khói bụi, bắt buộc các cơ sở sản xuất, khu, cụm công nghiệp phải xử lý nước thải trước khi thải ra môi trường. Trưởng phòng Cảnh sát Môi trường Trần Trọng Bình kiến nghị: Thành phố cần thành lập Ban chỉ đạo bảo vệ môi trường có sự tham gia của đầy đủ các ban, ngành, chính quyền các cấp. Bởi nếu không có sự phối hợp, trao đổi thường xuyên, phân định rõ trách nhiệm thì rất khó trong việc phát hiện, xử lý vi phạm về môi trường. Cần công khai danh tính các cơ sở gây ô nhiễm môi trường trên các phương tiện thông tin đại chúng để người dân kiểm tra, giám sát. Việc đóng cửa những cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng liên quan đến nhiều vấn đề, tuy nhiên, không thể vì lý do gì mà nương nhẹ, hoặc làm ngơ. Thành phố cần kiên quyết xử lý những cán bộ đứng đầu các đơn vị này. Bộ máy quản lý môi trường ở Hà Nội cần được bổ sung, tăng cường, bảo đảm mỗi quận, huyện có ít nhất ba cán bộ thanh tra môi trường. Cần xây dựng cơ chế khen thưởng đối với quần chúng và lực lượng chức năng kịp thời ngăn chặn, phát hiện các cơ sở gây ô nhiễm.

Theo kế hoạch của UBND thành phố, việc di dời các cơ sở gây ô nhiễm ra khỏi khu vực nội thành sẽ hoàn thành vào năm 2015. Thành phố cam kết tạo điều kiện thuận lợi về cơ chế, chính sách ưu đãi, tăng mức thưởng tiến độ để các đơn vị đẩy nhanh tiến độ di dời, xử lý kiên quyết bằng các biện pháp hành chính những đơn vị chây ỳ. Tuy nhiên, theo UBND thành phố cũng kiến nghị sớm sửa đổi Quyết định số 09/2007/QÐ-TTg ngày 19-1-2007 của Thủ tướng Chính phủ để có cơ chế tài chính, đất đai phù hợp cho các cơ sở gây ô nhiễm đẩy nhanh việc di dời. Thành phố kiến nghị Chính phủ cho phép thành phố được điều chỉnh phù hợp tình hình thực tế và được áp dụng một số chính sách mà Chính phủ cho phép đối với TP Hồ Chí Minh (doanh nghiệp di dời vào khu công nghiệp được hỗ trợ lãi suất từ 3 đến 4% khi vay vốn, được miễn giảm thuế, cho trả góp 50% tiền thuê đất, số còn lại được trả góp trong vòng từ 10 đến 20 năm, có chính sách hỗ trợ đối với lao động nghỉ việc khi doanh nghiệp nhà nước di dời...).

Một khó khăn nữa là làm thế nào để tạo được quỹ đất đủ cho hơn 100 doanh nghiệp, cơ sở phải di dời trong những năm tới? Thực tế cho thấy, chính quyền phải chủ động liên hệ, giới thiệu địa điểm di dời cho doanh nghiệp nếu không sẽ mất rất nhiều thời gian.

Quy hoạch chung của Thủ đô Hà Nội đang được xây dựng, dự kiến hoàn thành vào năm 2010. Ðây là cơ hội để xây dựng quy hoạch môi trường. Chẳng hạn, khi xây dựng quy hoạch thoát nước sẽ tính toán luôn cho quy hoạch xử lý nước thải, xây dựng quy hoạch các trung tâm xử lý chất thải khi xây dựng quy hoạch các đô thị vệ tinh mới...

Bảo vệ môi trường, giảm thiểu ô nhiễm là việc làm vừa cấp thiết, vừa lâu dài; vì vậy, đòi hỏi được đầu tư thỏa đáng. Hà Nội cần đẩy nhanh các dự án xây dựng nhà máy xử lý nước thải công suất lớn, tập trung đầu tư xử lý chất thải bằng công nghệ cao, giảm diện tích chôn lấp, tiết kiệm đất, sản xuất phân vi sinh, sản xuất điện từ rác. Lựa chọn công nghệ hiện đại, công suất lớn không chỉ giải quyết nhu cầu trước mắt mà còn tính toán cho tương lai khi quy mô dân số của Hà Nội lên tới hơn mười triệu dân. Bị động, thiếu năng lực xử lý rác do không mạnh dạn đầu tư công nghệ tiên tiến là một bài học cần được Hà Nội thẳng thắn nhìn nhận. Nhiều chuyên gia cho rằng: Ðây là thời điểm thuận lợi để thành phố đi tắt, đón đầu trong việc đầu tư công nghệ xử lý môi trường hiện đại vì các hãng sản xuất nước ngoài đang trong giai đoạn hạ giá thành sản phẩm nhằm thu hồi vốn. Thành phố cũng cần sớm đầu tư xây dựng các trạm giám sát môi trường theo công nghệ hiện đại với các thiết bị quan trắc, tự động thông báo các chỉ số về môi trường. Ðể việc khắc phục ô nhiễm môi trường tại các làng nghề có hiệu quả bền vững, thành phố cần nghiên cứu, xây dựng được cơ chế, chính sách riêng như thu hút đầu tư hệ thống thu gom xử lý nước thải, rác thải, nhanh chóng chuyển các cơ sở sản xuất trong khu dân cư vào cụm, điểm công nghiệp... Xử lý nước thải, rác thải đòi hỏi nguồn vốn đầu tư lớn, cần sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế, vì vậy, Hà Nội cần sớm ban hành cơ chế ưu đãi đối với các doanh nghiệp đầu tư xử lý nước thải, chất thải, tạo môi trường đầu tư thông thoáng, thuận lợi trong lĩnh vực này.

VĨNH HOÀNG

Có thể bạn quan tâm