Động lực để hợp tác xã nông nghiệp phát triển bền vững

Nguồn vốn dành cho phát triển chuỗi liên kết sản xuất được cho là “chìa khóa” để người nông dân, hợp tác xã chủ động phát triển nông nghiệp theo hướng chuyên sâu, bền vững. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều khó khăn, vướng mắc về cơ chế, chính sách khi hợp tác xã và người nông dân tiếp cận nguồn vốn này.

Sản xuất lúa theo mô hình liên kết 1 triệu ha lúa chất lượng cao vùng Đồng bằng sông Cửu Long.
Sản xuất lúa theo mô hình liên kết 1 triệu ha lúa chất lượng cao vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Giữa những cánh đồng lúa trải dài trên vùng đất nắng gió tỉnh Tây Ninh, chuỗi liên kết sản xuất lúa chất lượng cao của hợp tác xã Thương mại Dịch vụ nông nghiệp Cây Trôm ở xã Khánh Hưng đã mở ra hướng đi mới đầy tiềm năng cho người nông dân. Đây là một trong số ít tổ chức kinh tế tập thể của Tây Ninh tham gia đề án nhận hỗ trợ theo chủ trương Nghị định số 98/2018/NĐ-CP ngày 5/7/2018 của Chính phủ về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp (Nghị định 98).

Việc xây dựng chuỗi liên kết sản xuất hiệu quả, bền vững giúp các thành viên tiết kiệm chi phí đầu tư, tăng thu nhập từ 13-30% so với trước khi tham gia hợp tác xã. Dù đạt được những kết quả tích cực, nhưng Giám đốc hợp tác xã Bùi Văn Tuấn cho biết, hiện tất cả các đơn vị thực hiện Nghị định 98 đều vướng quy định về vốn đối ứng trong đầu tư cơ sở hạ tầng.

Cụ thể, với hợp tác xã vốn đối ứng lên đến 70%, trong khi ngân sách nhà nước hỗ trợ khoảng 30%. Đối với một hợp tác xã nông nghiệp thì 70% là một gánh nặng, khó có thể đáp ứng; cho nên đến 99% hợp tác xã bỏ hạng mục hạ tầng ra khỏi đề án cũng như kế hoạch dự án liên kết.

Hợp tác xã Nông nghiệp Rạch Lọp xã Hùng Hòa, tỉnh Vĩnh Long cũng gặp nhiều rào cản khi cố gắng tiếp cận các gói hỗ trợ liên kết của nghị định. Giám đốc hợp tác xã Huỳnh Đăng Khoa cho biết: “Chính sách nhìn chung thuận lợi, nhưng mức hỗ trợ hạ tầng chỉ 30% khiến hợp tác xã khó đủ năng lực tài chính để dẫn dắt liên kết. Cơ chế hỗ trợ sau đầu tư cũng khó tiếp cận khi ít hợp tác xã có khả năng ứng vốn trước. Thiếu vốn là nguyên nhân làm đứt gãy chuỗi liên kết”.

Ghi nhận từ thực tiễn sản xuất, Nghị định 98 yêu cầu các hợp tác xã, tổ hợp tác muốn nhận hỗ trợ phải xây dựng phương án cụ thể, bao gồm kế hoạch sản xuất, hợp đồng liên kết, dự toán kinh phí và cam kết đối ứng vốn. Đây là yêu cầu cần thiết để bảo đảm hiệu quả đầu tư, nhưng lại trở thành thách thức đối với những hợp tác xã sản xuất nông nghiệp quy mô nhỏ. Các điều kiện như quy mô sản xuất lớn, liên kết chặt và hợp đồng bao tiêu dài hạn cũng là rào cản lớn trong tiếp cận hỗ trợ.

Ngoài ra, thị trường bấp bênh, tiêu chuẩn kỹ thuật cao khiến chuỗi liên kết thiếu bền vững. Chi phí chứng nhận, đóng gói, truy xuất nguồn gốc cao trong khi giá nông sản biến động; hạ tầng sau thu hoạch và logistics chưa đồng bộ làm giảm sức cạnh tranh. Thủ tục hành chính còn rườm rà khiến hợp tác xã mất nhiều thời gian, khó tập trung vào sản xuất.

Từ góc độ nghiên cứu, Tiến sĩ Trần Minh Hải, Phó Hiệu trưởng Trường Chính sách công và Phát triển nông thôn cho rằng, Nghị định 98 bộc lộ nhiều điểm hạn chế nên cần phải sửa đổi, bổ sung. Hiện, chúng ta đang tập trung hỗ trợ sản xuất là chủ yếu chứ không tập trung cho thị trường, liên kết, về tiêu chuẩn chất lượng, sản xuất bền vững, về tiếp cận các nguồn vốn xanh hoặc khuyến khích các tác nhân khác tham gia chuỗi, kể cả doanh nghiệp và thương lái...

Cục trưởng Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn Lê Đức Thịnh cho biết, đơn vị đang tham mưu cho Bộ Nông nghiệp và Môi trường trình Chính phủ sửa đổi, bổ sung nội dung Nghị định 98 để phù hợp với giai đoạn phát triển mới. Hy vọng rằng, sau khi sửa đổi thì khả năng liên kết giữa hợp tác xã với doanh nghiệp, nông dân với hợp tác xã, doanh nghiệp được bền vững hơn. Năng lực quản trị của các chuỗi giá trị sẽ tăng lên, thúc đẩy sản xuất xanh, sản xuất số trong chuỗi giá trị.

Theo Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trần Thanh Nam, các thị trường lớn đều yêu cầu truy xuất nguồn gốc, vì vậy việc xây dựng vùng nguyên liệu bài bản là nền tảng của chuỗi liên kết. Để chuỗi liên kết phát triển bền vững, yếu tố then chốt vẫn là nguồn vốn: Cần quy hoạch rõ cây, con chủ lực gắn với vùng nguyên liệu, từ đó tạo cơ sở thu hút doanh nghiệp đầu tư và hình thành các liên kết sản xuất ổn định.

Trong bối cảnh mới, việc sửa đổi Nghị định 98 không chỉ là điều chỉnh chính sách, mà là bước đi cần thiết để khơi thông liên kết, thu hút nguồn lực và định hình một nền nông nghiệp hiện đại, bền vững.

Có thể bạn quan tâm