Số là từ những năm 1980, sau khi học xong cấp 2, chuyện học lên cấp 3 của những đứa thiếu niên tầm tuổi 14-15 ở làng không hề là dễ dàng khi khoảng cách từ quê lên trường cấp 3 khá xa. Để học được, không chỉ thi đậu là đủ mà gia đình phải có điều kiện cho con thuê trọ hoặc có bà con ở đó cho ở nhờ, có gạo muối đùm theo. Bởi thế, hầu hết lũ trẻ nhà quê chúng tôi chỉ có thể ở nhà phụ gia đình tham gia lao động trong các tổ đội sản xuất của hợp tác xã.
Những người lớn trong gia đình được coi là “lao động chính” còn những đứa trẻ chưa đủ tuổi được xếp loại “lao động phụ”, mỗi ngày công của lao động phụ được tính bằng một phần hai ngày công của người lớn. Và thật ra, cái “ngày công” được chấm điểm để cuối vụ, căn cứ vào đó mà ăn chia ngô khoai thóc lúa, lại chính là điều dẫn đến sự suy sụp của ruộng đồng và đời sống nông dân.
Trong những ngày lao động hợp tác xã ấy, như làm cỏ lúa chẳng hạn, mọi người cùng làm tầm hơn một tiếng đồng hồ sẽ “giải lao”, và giờ giải lao ấy thường dài hơn giờ làm việc. Sau cả tiếng đồng hồ “giải lao”, mọi người sẽ làm thêm một vài chục phút nữa rồi lại giải lao và đến trưa, sẽ về nhà. Buổi chiều sẽ tiếp tục như thế. Ngày mai sẽ lại như thế. Tháng sau lại như thế.
Trong bất cứ công việc gì sau này, người ta gọi cách làm việc ấy là “rong công phóng điểm”. Một sào lúa nhẽ ra chỉ chi phí vài chục công, nhưng căn cứ vào số người và thời gian tham gia, sẽ lên đến hàng trăm công. Số lúa thu hoạch ấy sau khi làm các loại nghĩa vụ và chia cho ngày công sẽ có số thóc cho mỗi ngày công. Sản lượng lúa thì thấp, số ngày công thì cao, lại đẻ ra thành ngữ “một ngày công hai lạng thóc”. Hai lạng thóc sẽ cho một lạng gạo. Thử hỏi có ai có thể sống được với mỗi lạng gạo/ngày, chưa kể còn nuôi theo bao nhiêu miệng ăn khác trong gia đình như cha mẹ già mất sức lao động, con cái nhỏ chưa thể đi làm…
Chính hiện thực ấy đã khiến cho cậu bé mười mấy tuổi là tôi ngày đó đã cảm khái nên câu vè “Không đi thì sợ đội “phê”/ Đi đi về về cho đủ ngày công” mà những dì, những thím trong đội sản xuất ngày ấy, giờ đây ở tuổi gần đất xa trời, vẫn còn nhớ và nhắc câu chuyện cười ra nước mắt của thời “rong công phóng điểm” ấy (Trộm nghĩ nếu có ai tập hợp lại những câu chuyện ngày đó, chắc chắn nó sẽ là những phần “ngoại sử” sinh động bổ sung cho chính sử của một giai đoạn không thể nào quên).
Với cách thức lao động ấy thì chuyện đói đã trở thành phổ cập. Cả làng cả xã vêu vao. Hiện thực đó cũng là tiền đề cho sau này, nhà văn Phùng Gia Lộc viết nên thiên ký sự bất hủ: “Cái đêm hôm ấy đêm gì...”.
Những hiện thực bất cập ấy đã khiến việc đổi mới cách thức sản xuất trở thành điều sinh tử. Từ cách lao động theo kiểu “cha chung không ai khóc”, một cuộc cách mạng đã âm thầm diễn ra và dần dần tạo nên một cuộc cách mạng thật sự làm thay đổi đất nước.
Năm 2005, chuẩn bị cho kỷ niệm 20 năm đổi mới, tôi trở lại làng quê của nhà văn Phùng Gia Lộc để viết bài “Trở lại miền quê của “Cái đêm hôm ấy đêm gì…” và sau đó thực hiện tuyến bài “Đêm trước đổi mới”.
Tôi đã rất vất vả để tìm cho được Chỉ thị số 100-CT/ TW của Ban Bí thư ban hành ngày 13/1/1981 do Thường trực Ban Bí thư Lê Thanh Nghị ký về “Cải tiến công tác khoán, mở rộng “khoán sản phẩm đến nhóm lao động và người lao động” trong hợp tác xã nông nghiệp”. Chỉ thị này chỉ dài hơn 3.000 từ, nhưng đó thật sự là một tiền đề quan trọng cho toàn bộ công cuộc đổi mới những năm tiếp theo.
Trở lại với câu chuyện những ngày tham gia làm “lao động phụ” ở hợp tác xã của chúng tôi, một thời gian sau khi “rong công phóng điểm”, hợp tác xã bắt đầu sử dụng những thửa đất khó canh tác, không màu mỡ, ở xa địa bàn khó quản lý… để chia lại cho các hộ dân được nhận canh tác rồi nộp sản lượng theo quy định cho hợp tác xã. Và chính những năm tháng đó, ký ức tuổi thơ của tôi đã chứng kiến phép màu của ruộng khoán: Những thửa ruộng cằn khô, những bãi biền bị lau sậy lấn chiếm, bị trâu bò hợp tác giẫm phá…, sau khi được khoán cho dân thì như được phù phép. Sau giờ làm công ở các thửa ruộng hợp tác xã, mọi người dồn sức vào phần ruộng đầu thừa đuôi thẹo được chia, và hóa ra với động lực này, giá trị hoa lợi mà những mảnh ruộng cằn mang lại cao hơn rất nhiều những thửa ruộng màu mỡ của hợp tác xã!
Gia đình tôi cũng được chia một mảnh đất bãi cạnh bờ sông Hiếu. Một mảnh đất sình, mọc đầy sậy, mấy anh em tôi từ đứa bé nhất 3-4 tuổi đến tôi những năm ấy 15-16 tuổi đã cùng mẹ của mình chăm bẵm dọn dẹp để trồng rau.
Chiều chiều, sau giờ lao động của hợp tác xã, tôi lại vác cái gàu xuống bến sông tát nước cho đám rau. Sớm tinh mơ, hai mẹ con tôi có thể xuống hái đủ vài chục bó rau muống cho mẹ tôi mang ra chợ bán sỉ cho những người mua rau từ quê đem ra chợ thị xã bán. Từ vuông ruộng rau đã có đồng ra đồng vào. Rồi những mảnh rẫy xa được trồng thêm khoai sắn. Những hộ nhạy bén với thương trường thay vì trồng lúa, ngô, khoai, họ trồng gừng, nghệ. Còn nhớ cái Tết năm nào đó, có một hộ trong xóm trúng đậm vụ mứt gừng từ số gừng trên thửa ruộng khoán, thay vì nộp sản phẩm thóc cho hợp tác xã, nhà họ chỉ bán vài cân mứt gừng là đủ định mức. Còn lại phần lãi đủ cho cả nhà sắm Tết xênh xang.
Sau này lớn khôn, đi làm báo, tiếp xúc thêm với nhiều câu chuyện, nhiều tài liệu về giai đoạn đổi mới này, chúng tôi biết thêm về một nhân vật đặc biệt mà những năm gần đây ông được nhắc đến nhiều, đấy là Bí thư Tỉnh ủy Kim Ngọc của tỉnh Vĩnh Phúc. Chính nhờ việc sáng tạo ra mô hình “khoán hộ” mà nông dân của Vĩnh Phúc được giải phóng sức lao động, tạo nên những thành quả to lớn trong sản xuất.
Cho dù sau sáng kiến khoán hộ của mình, ông Kim Ngọc đã bị phê bình kiểm điểm, nhưng cũng nhờ sự khởi phát ấy mà sau này Đảng ta có Chỉ thị số 100 vào năm 1981, và từ đó, thêm 7 năm nữa, ngày 5/4/1988, thay mặt Bộ Chính trị, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã ký ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp (sau này quen gọi là “Khoán 10”). Theo Nghị quyết, hộ gia đình được thừa nhận là đơn vị kinh tế tự chủ, nông dân được trao quyền sử dụng đất và mức khoán lâu dài.
Những thửa ruộng khoán năm nào đã nhắc nhớ một bài học giản dị mà thâm hậu: Đất không phụ người, chỉ có con người từng bị buộc phải quay lưng với đất. Và từ những thửa ruộng khoán ấy, con người mới thật sự cảm thấy được gắn bó. Ruộng đồng hồi sinh, làng quê đổi khác, đất nước tìm lại sức sống đã từng tưởng như cạn kiệt khi con người được sống và làm việc bằng toàn bộ trách nhiệm và phẩm giá.
Đổi mới năm 1986 đã đưa đất nước bước vào một thời kỳ mới, từ chỗ đói ăn đã dần trở thành nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới. Và từ mùa xuân 2026 này, chúng ta kỳ vọng về những giấc mơ lớn sẽ thành hiện thực về một kỷ nguyên Việt Nam cường thịnh!
Từ câu chuyện đổi mới của thập niên 80 thế kỷ trước, nhìn lại cuộc cách mạng hiện nay mà toàn Đảng, toàn dân đang quyết liệt thực hiện, có thể thấy những sự tương đồng: Cả hai cuộc đổi mới đều là bước ngoặt lớn, mang tính cách mạng trong lịch sử phát triển của Việt Nam, nhằm thay đổi mô hình quản lý và vận hành xã hội cho phù hợp với thực tiễn mới.