Dấu ấn làng nghề hàng trăm năm tuổi
Làng nghề sơn mài Tương Bình Hiệp có lịch sử hình thành hàng trăm năm tuổi. Bàn về nguồn cội của làng nghề sơn mài, theo sách Gia Định Thành thông chí của Trịnh Hoài Đức, nghề sơn mài xuất hiện ở Bình Dương hơn 300 năm trước. Còn theo tài liệu mà cuốn “Bình Dương - Thế và lực mới trong thế kỷ XXI” do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia phối hợp với Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương xuất bản năm 2003, đã thể hiện: Trong cuộc di cư đầu thế kỷ XVIII, những người miền bắc, trong đó có những người thợ sơn mài đã đi dọc sông Sài Gòn đến lập nghiệp ở vùng đất Thủ Dầu Một, đưa nghề sơn mài được du nhập và lưu truyền cho đến ngày nay.
Năm 1901, người Pháp lập Trường Mỹ thuật bản xứ Thủ Dầu Một (nay là Trường trung cấp Mỹ thuật - Văn hóa Bình Dương) và chủ yếu để dạy nghề chạm trổ, trang trí sơn mài... Với lợi thế này, nghề sơn mài có điều kiện thuận lợi phát triển nhanh và mở rộng. Đỉnh cao sự phát triển của sơn mài là khoảng thời gian từ năm 1945 đến năm 1975, đánh dấu sự ra đời của sơn mài Tương Bình Hiệp là xưởng sơn mài Thành Lễ do hai nghệ nhân là ông Trương Văn Thành và ông Nguyễn Văn Lễ sáng lập. Nơi đây đã quy tụ được nhiều nghệ nhân nổi tiếng trong vùng thời bấy giờ như: Thái Văn Ngôn, Ngô Từ Sâm, Trần Văn Nam…, đã góp phần đưa nghề sơn mài đạt đến đỉnh cao về sự phong phú và chất lượng nghệ thuật, có giá trị thương mại lớn và được xuất khẩu sang thị trường nhiều nước.
Theo tài liệu nghiên cứu từ Hội Khoa học lịch sử Bình Dương để lại, qua hàng trăm năm, Làng nghề sơn mài Tương Bình Hiệp luôn giữ được nét đẹp truyền thống, dù là đề tài về thiên nhiên, dân gian hay lịch sử đều mang đậm bản sắc chung của văn hóa dân tộc. Điều này xuất phát từ điều kiện lịch sử, từ những cuộc di dân đã đưa các lớp thợ mỹ thuật dân gian từ đất Quảng Bình, Thuận Hóa xưa du nhập nghề sơn mài vào xứ Đồng Nai, Gia Ðịnh. Vốn mang những tinh hoa văn hóa của vùng đất phương bắc lại kết hợp, gắn bó với điều kiện địa lý tự nhiên đất phương nam cho nên Làng nghề sơn mài Tương Bình Hiệp đã sớm tạo được phong cách riêng, đặc thù của một vùng đất.
Nét đẹp truyền thống của Làng nghề sơn mài Tương Bình Hiệp là đề tài về thiên nhiên, dân gian hay lịch sử đều mang đậm bản sắc chung của văn hóa dân tộc. Ðiểm chung ở những bức tranh sơn mài thường thấy là các chủ đề về tứ thời, ngư tiều canh mục, long lân quy phụng, các danh lam thắng cảnh ở Việt Nam… Nét văn hóa mỹ thuật này hòa quyện vào dòng chảy văn hóa chung của cả nước, vì vậy vừa có giá trị về văn hóa, vừa mang dấu ấn lịch sử của dân tộc, góp phần vào văn hóa truyền thống Việt Nam. Đặc biệt, những nghệ nhân sơn mài vừa kế thừa nét văn hóa mỹ thuật truyền thống của dân tộc, vừa phát huy những giá trị văn hóa của địa phương để tạo nên nét đặc sắc riêng cho Làng nghề sơn mài Tương Bình Hiệp.
Kỳ vọng đề án bảo tồn làng nghề sơn mài
Đam mê với làng nghề, Nghệ nhân ưu tú Trương Quan Tịnh với gần 50 năm kinh nghiệm và gắn bó với Làng nghề sơn mài Tương Bình Hiệp, chia sẻ: Sự tinh xảo, nhẹ nhàng thanh thoát, đậm đà bản sắc thể hiện đa dạng trên tất cả các sản phẩm sơn mài Tương Bình Hiệp, từ những bức tranh nghệ thuật đến các sản phẩm sơn mài để sử dụng và trang trí như: bình, lọ, dĩa, vòng tay, hộp… Thông qua nhiều phương pháp thể hiện như: sơn mài sơn lộng, sơn mài vẽ mỏng, sơn mài khoét trũng, sơn mài đắp nổi, sơn mài cẩn trứng, sơn mài cẩn xà cừ, cẩn ốc…kết hợp trên gỗ, gốm, tre và các chất liệu khác, sản phẩm sơn mài Tương Bình Hiệp đã chinh phục nhiều thị trường khó tính.
Theo Nghệ nhân ưu tú Trương Quan Tịnh, sản phẩm sơn mài hiện nay có hai dạng, dạng hiện đại theo nhu cầu thị trường và dạng truyền thống thể hiện nét tinh hoa của nghệ thuật sơn mài. Dù hàng sơn mài đã có nhiều thay đổi để thích nghi với nhu cầu thị trường nhưng Làng nghề sơn mài Tương Bình Hiệp vẫn duy trì quy trình sản xuất với nhiều nước sơn bằng sơn ta truyền thống kết hợp độ tinh xảo từ những họa tiết, hoa văn nên luôn tạo sự độc đáo và bản sắc riêng. Sản phẩm sơn mài Tương Bình Hiệp đã xuất khẩu sang thị trường nhiều nước.
Được coi là đặc trưng của nền hội họa Việt Nam và được chế tác thông qua nhiều công đoạn tỉ mỉ cùng với kỹ thuật lành nghề của các nghệ nhân, sơn mài có giá trị về tinh thần, văn hóa, lịch sử, rất cần được bảo tồn và phát huy. Tháng 4/2016, nghề sơn mài Tương Bình Hiệp được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công bố đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Tháng 3/2020, đề án “Bảo tồn và phát triển Làng nghề sơn mài Tương Bình Hiệp kết hợp với du lịch thuộc địa bàn thành phố Thủ Dầu Một” được Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương (trước đây) phê duyệt; tháng 10/2020, đề án được công bố.
Mục tiêu của đề án là xây dựng tổng thể làng nghề, quy hoạch và xây dựng khu sản xuất tập trung cho các doanh nghiệp sơn mài để bảo đảm vấn đề môi trường, xây dựng nơi trưng bày sản phẩm chung cho làng nghề; đồng thời kết hợp xây dựng các tour du lịch tham quan, giới thiệu sản phẩm làng nghề đến du khách trong và ngoài nước. Đề án thực hiện trên diện tích khoảng 5,4 ha tại phường Tương Bình Hiệp (nay là phường Chánh Hiệp) với nhiều hạng mục: Nhà thờ Tổ, khu sản xuất tập trung, khu trưng bày sản phẩm, cổng chào làng nghề, đào tạo nghề, dịch vụ du lịch, hệ thống xử lý nước thải… Tuy nhiên đến nay, đề án mới dừng lại ở việc công bố Quy hoạch 1/500 còn việc triển khai rất chậm.
Phó Chủ tịch Hiệp hội Sơn mài-Điêu khắc Bình Dương Lê Bá Linh cho rằng: Khi đề án bảo tồn và phát triển làng nghề được phê duyệt, người dân và người làm nghề rất vui và tin tưởng mang lại diện mạo mới cho làng nghề. Mong muốn hiện nay của người dân là làm sao đẩy nhanh triển khai đề án nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, cơ sở, người làm nghề an tâm sản xuất, phát triển kinh tế và bảo tồn nghề sơn mài truyền thống phù hợp với xã hội hiện đại trong tương lai. Mong muốn của những nghệ nhân, người dân làng nghề sơn mài là sau hợp nhất và sắp xếp đơn vị hành chính, Thành phố Hồ Chí Minh với thế mạnh và khả năng phát triển du lịch mạnh mẽ. Có lợi thế nằm bên sông Sài Gòn và các trục lộ chính kết nối vùng thuận lợi, Làng nghề sơn mài Tương Bình Hiệp kỳ vọng đề án bảo tồn và phát triển làng nghề sớm đẩy nhanh tiến độ, hoàn thành nhằm tạo sức sống mới giúp làng nghề phát triển ổn định, bền vững.