Theo lời chỉ dẫn của Viện Bảo tàng Quân chủng Phòng không – Không quân Việt Nam, tôi gặp và hỏi chuyện ông Nguyễn Nhật Chiêu ở đội sản xuất số 10 xã Quốc Tuấn, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương. Trước khi rời quân ngũ về quê, ông Chiêu mang quân hàm Đại tá, Sư đoàn trưởng Sư đoàn không quân 370 của Quân chủng Phòng không – Không quân. Trong cuộc đời binh nghiệp của mình, ông nguyên là phi công tiêm kích máy bay MiG 17 rồi 21 và đã lập được những chiến công lớn : bắn rơi sáu máy bay phản lực vào loại hiện đại nhất của Mỹ. Ông đã vinh dự được Bác Hồ tặng sáu huy hiệu của Người và có lần được ăn cơm với Bác. Ngày 31-12-1973, ông được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Đã trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, năm nay ông đã gần tám mươi tuổi, ở tuổi xưa nay hiếm, nhưng trông ông vẫn to, cao, khỏe mạnh, nói năng hoạt bát.
Trong câu chuyện với chúng tôi, ông Chiêu ít nói về những chiến công của mình mà kể chuyện ông được đồng bào cứu sống, cưu mang trong lần không chiến với máy bay Mỹ. Lúc đó, máy bay của ông bị bắn cháy, ông phải nhảy dù. “Nếu lần ấy tôi không được đồng bào tìm thấy và cứu sống, phải chết đói, chết khát ở trong rừng sâu, đến nay chưa chắc đã quy tập được hài cốt, còn đâu mà chiến đấu lập công nữa!”, ông nói.
Tôi đã ghi lại câu chuyện cảm động của Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Nhật Chiêu như sau :
Lần ấy biên đội của tôi có bốn chiếc MiG 17 xuất kích, quần nhau với 20 chiếc máy bay phản lực vào loại hiện đại bậc nhất của Mỹ thời bấy giờ. Tuy biên đội của tôi có bắn hạ được hai máy bay F4 và F105 của địch, nhưng biên đội cũng bị tổn thất khá nặng nề. Ba chiếc MiG 17 bị địch bắn cháy, một phi công anh dũng hy sinh, hai phi công phải nhảy dù. Một trong số hai phi công ấy là tôi. Khi quần nhau với địch trên bầu trời, tôi đang bám sát một chiếc máy bay F4 của địch ở phía trước, bỗng nhiên tôi cảm thấy máy bay của mình bị lắc mạnh và nghe tiếng Pục! Khói lửa từ phía sau tràn ngập buồng máy, rồi ghế tự động bật tôi ra khỏi máy bay. Tôi không kịp thấy chiếc máy bay của mình cháy ra sao nữa. Từ trên độ cao ít không khí, dây dù và dù giật rất mạnh, tôi thấy tê đau ở sườn bên phải. Rồi dù mở và tôi lao xuống khá nhanh...
Tôi tỉnh dậy thấy mình nằm giữa một bụi cây, dây rợ, gai góc bám vào bộ quần áo bay. Trời tối đen mịt mùng, tôi sờ soạng quanh người, trên người dây dù rối rắm; chiếc dù bị treo mắc trên một cành cây to cao, còn dây dù đưa tôi chạm đất. Tôi thấy ê ẩm cả người và chân phải tê cứng, mãi không nhấc chân lên được. Tôi đoán khi dù xuống nhanh chân tôi chắc phải va đập vào cành cây mạnh lắm.
Dần dần hồi tỉnh lại, trong người tôi lúc đó chỉ có một khẩu súng ngắn cùng với 24 viên đạn và một chiếc la bàn. Rừng rậm, cây cối um tùm, đêm đen dày đặc mịt mùng, tôi không biết là chỗ mình đang ở là rừng của ta hay của bạn Lào. Nếu là rừng của Lào thì tôi phải sẵn sàng đối phó với phỉ. Tôi gượng đứng dậy định bước đi, nhưng chỉ vài bước là lại khụyu xuống. Thôi đành nằm xuống trong một hốc đá, chứ chẳng biết đi đâu và đi về hướng nào. Chờ mai trời sáng, mở la bàn ra cứ hướng Đông mà đi vậy. Tuy chân, mình mẩy còn đau ê ẩm, nhưng đầu óc tôi thấy minh mẫn trở lại. Lúc này tôi mới thấy bụng đói cồn cào, cổ họng đau rát và cơn khát ùa đến. Nhưng chung quanh toàn rừng rậm và cây cối, chẳng lần tìm được thứ gì để ăn hay uống. Tôi tự bảo mình cố nằm xuống nhắm mắt ngủ chờ trời sáng. Nhưng càng cố ngủ thì cơn đói, cơn khát lại dày vò và càng làm cho đầu óc tỉnh táo thêm. Đêm tối ở rừng vẫn dày đặc, tôi không nằm duỗi thẳng được và phải nằm gếch đầu lên hòn đá chân co, chân duỗi.
Một mình nằm trong rừng rậm đêm tối mịt mùng, đôi lúc những câu hỏi thoáng qua trong đầu : Không lẽ mình không gặp được ai, không ai tìm thấy mình, rồi đói, khát cứ tự làm mình chết dần, chết mòn giữa rừng rậm này sao ?
Tôi sinh ra và lớn lên ở một vùng quê trù phú ở đồng bằng Bắc Bộ. Năm 1953, tôi bước vào tuổi mười bảy, đang học đầu cấp III tôi đã tình nguyện đi bộ đội. Nhập ngũ chưa đánh được trận nào cho ra “hồn” thì hòa bình lập lại. Mấy năm sau tôi được tuyển chọn đi học lớp lái máy bay đầu tiên của Quân đội. Chiến tranh phá hoại của Mỹ đối với miền Bắc xảy ra được ít lâu thì tôi cùng với anh em trong lớp học lái 31 chiếc máy bay MiG 17 từ nước ngoài về nước. Về nước được ít lâu thì không quân ta xuất kích chiến đấu với máy bay Mỹ. Nhiều anh em, đồng đội cùng lớp học đã chiến đấu và bắn hạ được máy bay phản lực Mỹ, nhưng tôi lần thứ nhất xuất kích chưa trực tiếp bắn rơi máy bay Mỹ vì chỉ làm nhiệm vụ số 2 yểm trợ cho số 1 công kích, lần thứ hai xuất kích lại lâm trận như hiện nay, chưa lập được công gì. Nay phải chết dần, chết mòn vì đói khát, một thân một mình trong rừng sâu thế này thì vừa tiếc cho bản thân, vừa phí phạm công sức của Đảng, Nhà nước, quân đội bao năm đào tạo mình trở thành phi công. Nghĩ đến đó, tôi lại rạo rực, một cảm giác tê tái chạy nhanh khắp người.
Thế rồi hết đêm dài, trời cũng sáng. Tôi lấy súng ngắn ra bắn hai viên chỉ thiên để báo hiệu. Hai phát súng ngắn như lọt thỏm vào giữa rừng hoang và chỉ có tiếng vọng lại từ núi đá đến tai tôi. Tôi mở la bàn và định phương vị, rồi đứng dậy định đi về hướng Đông. Nhưng do mệt, đói, khát chân phải vẫn còn đau ê ẩm, tôi cố đứng lại bước lê được mấy bước thì bỗng khựng lại, khụyu xuống. Ngồi một lúc, tôi đành nằm nghiêng và lết bò nhích dần, nhích dần từng bước. Lết bò suốt cả ngày, nhưng ngoảnh lại vẫn nhìn thấy hốc đá và cái dù của mình treo trên cây rất gần.
Đêm, ngày thứ hai, thứ ba dài dằng dặc qua đi chậm chạp. Đến sáng ngày thứ tư, đói, khát, mệt lả người đi không lết được nữa, tôi cố trườn người vào một hốc đá ở phía trước và chờ đợi vô vọng ! Vắt, muỗi bu lấy khắp người, tôi cũng chẳng còn sức để xua đuổi chúng nữa.
Tôi đang nằm phủ phục xuống thì bỗng nghe có tiếng động sột soạt trên cành cây. Tôi giật thót mình, một con trăn đen, to dài như cái cột nhà đang lè lưỡi trườn mình về phía trước, ngay cành cây trên đầu tôi. Tôi tỉnh lại và rút súng ngắn, tì ngón tay vào lẫy cò súng ở tư thế sẵn sàng ấn cò khi con trăn lao xuống phía tôi. Tôi nín thở chờ đợi, nhưng không biết con trăn có nhìn thấy tôi hay không, hình như nó không để ý gì đến tôi, nó vẫn trườn lao về phía trước. Tôi thở phào. Một lúc sau, một con trăn nữa cũng to, đen, dài như con trăn hồi nãy trườn mình theo vết của con trăn trước. Chờ cho chúng đi khỏi, tôi cố rướn người bò lết sang một hốc đá khác và lại nằm chờ...
Cho đến khi mệt quá tôi lả và thiếp đi. Đến gần trưa ngày thứ tư, tôi đoán thế vì thấy mặt trời gần đỉnh đầu. Tôi đang nằm mơ màng bỗng thấy cây rừng lao xao, xào xạc và nghe như có tiếng người. Tôi cố choàng tỉnh lại, ngước nhìn phía trước và thấy thấp thoáng bóng một người con gái mặc quần áo dân tộc. Tôi vừa kịp trông thấy cô và hình như cô gái dân tộc cũng phát hiện ra tôi. Nhưng rồi cô vụt biến mất. Tôi ớ người, định kêu lên là có tôi ở đây, nhưng chưa kịp thì cô đã mất hút vào một lùm cây. Tôi nóng lòng chờ. Một lúc sau, cô dẫn thêm hai, ba người nữa và một ông già người dân tộc, súng lăm lăm trong tay tiến về phía tôi. Cô gái chĩa mũi súng về phía tôi và quát đanh thép: “Giơ tay lên!”. Tôi không giơ tay và nói to: “Tôi là phi công, bộ đội của Bác Hồ ở Hà Nội đây”. Vừa nghe tôi nói thì trong số họ có người nói to: “Phi công bộ đội của mình đây rồi !”.
Thế là một người đàn ông đứng tuổi, mấy cô gái chạy ùa về phía tôi. Tôi mệt lả người và ngã gục vào người đàn ông đứng tuổi. Tôi thấy nghèn nghẹn ở cổ, nước mắt trào ra. Thế là tôi sống lại rồi!
Sau này tôi được biết, người đàn ông đứng tuổi tên là Bùi Văn Te dân tộc Mường là Bí thư Đảng ủy, kiêm Chính trị viên xã đội xã Phú Lai huyện Lạc Thủy, Hòa Bình. Chỉ huy một Trung đội dân quân du kích xã đi sâu vào rừng để thực hiện nhiệm vụ tìm cứu phi công ta nhảy dù, đồng thời bắt giặc lái Mỹ cũng bị ta bắn rơi máy bay, nhảy dù xuống khu vực rừng núi Hòa Bình và Cúc Phương ở Ninh Bình.
Ba ngày rưỡi nhịn đói, nhịn khát, vắt và muỗi hút hết máu, tôi lả người khi không nhấc chân lên được. Ông Te và anh chị em dân quân phải thay nhau cõng và dìu tôi vượt qua nhiều khu rừng rậm, suối sâu, đèo cao. Từ giữa trưa đến tối mờ đất mới về đến một căn nhà sàn của một bản Mường của xã Phú Lai. Để tôi ngồi dưới bậc cầu thang ở nhà sàn, mấy người dân quân nam nữ lấy cót, nứa, mành che chung quanh, rồi một bà mẹ người Mường vào bảo tôi cởi quần áo bay ra, bà lấy lược chải hết những con vắt bám chặt cơ thể tôi ra, có con đã cong queo cùng với những giọt máu khô. Sau khi chải hết vắt trên người, mẹ đón nồi nước lá của mấy cô dân quân đem tắm gội cho tôi. Tắm rửa xong, tôi được mặc bộ quần áo của đồng bào dân tộc Mường và được ăn cháo gà, xôi nếp... Tôi ăn ngấu nghiến ngon lành.
Tôi được bà con đồng bào Mường của xã Phú Lai đặc biệt là gia đình vợ con ông Bùi Văn Te nuôi dưỡng, thuốc thang trong khi chờ xe của đơn vị đến đón...
Kể đến đây, ông Chiêu đọc luôn một đoạn trong bài thơ của nhà thơ Tố Hữu:
Con chim biết nhớ đàn, nhớ tổ
Ta nhớ người đau khổ nuôi ta
Công người như mẹ, như cha...
Ông Chiêu cho biết : Tuy ông ở xa nhưng những năm đang tại ngũ, cũng như khi trở về đời thường, ông thường xuyên đến thăm tri ân với gia đình ông Bùi Văn Te và bà con xã Phú Lai, Yên Thủy.
Nhờ được cứu sống trong lần ấy, sau đó ít lâu sức khỏe ông Chiêu được hồi phục, ông trở lại vị trí chiến đấu. Ông đã nhiều trận đối đầu với không quân Mỹ. Có một trận đánh dũng mãnh nhất do ông là Biên đội trưởng, số 2 là Nguyễn Văn Cốc đã bắn rơi ba máy bay Mỹ. Phi đội về sân bay an toàn.