Cú huých thể chế

Nhiều năm qua, Thành phố Hồ Chí Minh được xem là “phòng thí nghiệm” của các chính sách đột phá với nhiều lần được trao cơ chế đặc thù thông qua Nghị quyết số 54 (năm 2017), Nghị quyết số 98 (năm 2023)...

Luật Đô thị đặc biệt cho Thành phố Hồ Chí Minh được kỳ vọng mở ra nhiều thuận lợi rất lớn về thể chế, pháp lý.
Luật Đô thị đặc biệt cho Thành phố Hồ Chí Minh được kỳ vọng mở ra nhiều thuận lợi rất lớn về thể chế, pháp lý.

Việc Bộ Chính trị cho phép thành phố xây dựng Luật Đô thị đặc biệt sẽ là cú huých về thể chế để siêu đô thị tăng tốc phát triển.

Dù có các chính sách đặc thù và áp dụng nhiều năm nhưng tỷ trọng đóng góp của Thành phố Hồ Chí Minh và vùng Đông Nam Bộ trong GDP cả nước có xu hướng giảm, từ khoảng 37,6% năm 2001 xuống còn hơn 31% hiện nay; riêng thành phố từ khoảng 27% GDP cả nước thời điểm ban hành Nghị quyết 54 đã giảm xuống quanh mức 23-24%. Luật Đô thị đặc biệt được kỳ vọng là lời giải mang tính bước ngoặt cho sự phát triển của thành phố.

Không thể phủ nhận, thành phố đang vận hành trong một “chiếc áo thể chế” vốn được thiết kế cho các địa phương thông thường khiến nhiều quyết sách quan trọng bị chậm trễ, cơ hội đầu tư bị bỏ lỡ và không gian sáng tạo bị thu hẹp. Trong khi thành phố đã bước sang một giai đoạn hoàn toàn khác, nhất là sau hợp nhất với quy mô dân số lớn, kinh tế mở rộng, vai trò trung tâm tài chính, thương mại, đổi mới sáng tạo ngày càng rõ nét. Trong bối cảnh đó, Luật Đô thị đặc biệt không đơn thuần là bổ sung cơ chế ưu đãi, mà cần được nhìn nhận như một thiết kế thể chế hoàn chỉnh, tạo nền tảng vận hành cho một đô thị quy mô lớn, có tính cạnh tranh quốc tế.

Điểm cốt lõi của Luật Đô thị đặc biệt là trao quyền tự chủ cao hơn. Điều này cũng đồng nghĩa với việc tăng khả năng giải phóng các nguồn lực đang bị kìm hãm, nhất là tháo gỡ các điểm nghẽn pháp lý, mở rộng dư địa tài chính, tạo không gian cho các mô hình phát triển mới, cơ hội thu hút nhân lực chất lượng cao,... Khi đó, cơ chế thông thoáng, hàng loạt vấn đề về huy động vốn, cơ chế hợp tác công-tư (PPP) thế hệ mới, các dự án hạ tầng,... sẽ “đi” với tốc độ nhanh và hiệu quả hơn.

Với tính khả thi, hiệu quả vượt trội đó, quá trình xây dựng Luật Đô thị đặc biệt cần tránh cách tiếp cận theo kiểu “cơi nới” mà cần xác lập một hệ thống chính sách đồng bộ, có khả năng vận hành linh hoạt. Đơn cử, việc phân quyền phải thực chất. Các nội dung về tài chính, quy hoạch, đầu tư cần được quy định trực tiếp trong luật, hạn chế “đẩy xuống” văn bản dưới luật, dễ bị “tắc” trong quá trình thực thi. Tương tự, Luật cần cho phép thí điểm các mô hình mới trong phạm vi, thời gian và điều kiện rõ ràng, đi kèm cơ chế đánh giá cụ thể. Một điểm quan trọng khác, thành phố phải được đặt trong mối liên kết vùng. Thành phố không thể phát triển như một thực thể độc lập, mà cần cơ chế phối hợp các địa phương lân cận trong các dự án lớn như hạ tầng giao thông, đô thị, sân bay Long Thành hay chuỗi logistics.

Khi thể chế, cơ chế được khơi thông, luật hóa thì vấn đề vận hành, quản lý và quản trị cũng rất đáng được quan tâm. Một thực tế đáng chú ý, nhiều năm qua, thành phố không thiếu cơ chế đặc thù nhưng hiệu quả vẫn chưa tương xứng. Điều đó cho thấy, vấn đề không chỉ nằm ở “luật”, mà còn ở cách vận hành. Các chuyên gia cho rằng, “thể chế phi chính thức” chiếm tỷ lệ khá lớn trong triển khai các động lực, kết quả của quá trình thực hiện. Do đó, để Luật Đô thị đặc biệt phát huy hiệu quả, cần nâng cao năng lực thực thi, thiết lập cơ chế bảo vệ người dám làm và tăng cường tính minh bạch và giám sát để bảo đảm quyền lực đi kèm trách nhiệm giải trình. Trong đó, vai trò giám sát và phản biện xã hội cần được thể chế hóa rõ ràng, nhằm tạo sự đồng thuận và phát hiện sớm các bất cập trong quá trình triển khai.

Có thể bạn quan tâm