Ngành giấy: Những khoản lỗ và bài học đắt giá

Những tháng đầu năm nay, Tổng công ty Giấy Việt Nam bước đầu đạt được những thành tựu đáng khích lệ kể từ sau khi chuyển đổi sang mô hình hoạt động Công ty mẹ - công ty con. Tuy vậy, kiểm toán báo cáo tài chính năm 2004 vẫn ghi nhận những khoản lỗ ở một số đơn vị trực thuộc. Nguyên nhân của những khoản lỗ này là bài học kinh nghiệm đắt giá cho quá trình phát triển ngành giấy.

Những sự tương phản

Theo báo cáo kiểm toán tài chính năm 2004,  Tổng công ty giấy Việt Nam lỗ xấp xỉ 200 tỷ đồng. Tuy nhiên, vấn đề là ở chỗ không phải đơn vị nào trong Tổng công ty cũng sản xuất, kinh doanh không hiệu quả.

Ngoài Công ty giấy Ðồng Nai đạt mức hòa vốn, vẫn có bốn đơn vị thu được lợi nhuận (lãi lũy kế đến 31-12-2004 là hơn 4,5 tỷ đồng) gồm: Văn phòng Tổng công ty, Công ty giấy Bãi Bằng, Viện Giấy và xen-luy-lô, Công ty giấy Tân Mai. Công ty giấy Bãi Bằng lãi phát sinh trong năm 2004 là 6,034 tỷ đồng, nhưng số lãi lũy kế đạt 2,174 tỷ đồng, cao hơn Công ty giấy Tân Mai (lãi phát sinh 8,264 tỷ đồng, lãi lũy kế 2,014 tỷ đồng).

Mặc dù không lỗ phát sinh trong năm 2004 nhưng Công ty Văn phòng phẩm Hồng Hà vẫn phải chịu mức lỗ lũy kế là hơn 2 tỷ đồng. Bảy đơn vị khác sản xuất kinh doanh thua lỗ, đứng đầu là Công ty giấy Việt Trì (lỗ phát sinh trong năm 2004 là 52,853 tỷ đồng, nhưng tổng số lỗ lũy kế lên tới 165,855 tỷ đồng). Tương tự Công ty giấy Việt Trì, Công ty giấy Hoàng Văn Thụ có số lỗ lũy kế là 25,308 tỷ đồng, trong khi số lỗ phát sinh trong năm 2004 là 10,036 tỷ đồng.

Từ sự tương phản này, có thể thấy, một số đơn vị thuộc Tổng công ty giấy Việt Nam đã gặp những khúc mắc khá lớn trong sản xuất, kinh doanh, bởi đây không phải là tình trạng chung của toàn ngành giấy.

Nguyên nhân của những khoản lỗ

Theo Báo cáo giải trình kết quả sản xuất, kinh doanh của Tổng công ty giấy Việt Nam sau kiểm toán năm 2004, hầu hết các đơn vị hoạt động không hiệu quả đều có nguyên nhân liên quan quá trình đầu tư dây chuyền, thiết bị sản xuất.

Công ty giấy Việt Trì là đơn vị có số lỗ lũy kế cao nhất, cũng là thí dụ điển hình nhất. Năm 1998, Công ty đầu tư dây chuyền sản xuất giấy bao gói 2.500 tấn/năm xuất xứ từ Hàn Quốc, giá trị thiết bị là 419 tỷ đồng, tổng mức đầu tư là 583 tỷ đồng.

Tuy nhiên, khi đi vào sản xuất, sản phẩm không đạt chất lượng, sản lượng đạt thấp so với công suất thiết kế, do vậy đã lỗ từ khi đi vào hoạt động tới nay.

Công ty giấy Hoàng Văn Thụ là một thí dụ khác, với nhiều khía cạnh đặc biệt hơn. Năm 2001 (nghĩa là cách đây một khoảng thời gian chưa lâu, khi Việt Nam đã tiếp cận thời đại bùng nổ thông tin), Công ty đầu tư dây chuyền sản xuất giấy bao gói xi-măng bằng nguồn vốn vay trong nước trả chậm với lãi suất không được ưu đãi. Ðáng nói là hệ thống thiết bị này có xuất xứ từ CHLB Ðức, đã qua sử dụng, do đó chất lượng sản phẩm thấp, giá thành cao nên không cạnh tranh được với các sản phẩm cùng loại trên thị trường. Bên cạnh đó, hệ thống dây chuyền này còn đòi hỏi nhiều chi phí bảo dưỡng, ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm cũng như quy trình sản xuất.

Những hệ quả từ việc nhập thiết bị sản xuất đã qua sử dụng cũng là nguyên nhân quan trọng dẫn đến những khoản lỗ của các đơn vị như Công ty giấy Vạn Ðiểm, Công ty giấy Bình An (đều đầu tư dây chuyền sản xuất từ năm 2001, đều là các thiết bị cũ). Ðây là một bài học kinh nghiệm đắt giá cho ngành giấy nói riêng và các ngành công nghiệp nói chung, bởi nếu không quản lý chặt chẽ các dự án đầu tư, không những cả nền kinh tế bị ảnh hưởng nghiêm trọng mà Việt Nam sẽ còn phải đối mặt với viễn cảnh trở thành một "bãi rác thải công nghiệp", luôn luôn tụt hậu so với thế giới.

Những giải pháp cấp thiết

Lối ra cho tình trạng bế tắc "lỗ từ đầu, càng làm càng lỗ" này đang được hé mở từ những giải pháp mà Chính phủ áp dụng nhằm tháo gỡ khó khăn tài chính tại Công ty giấy Việt Trì. Những giải pháp này bước đầu đã mang lại hiệu quả, trước tiên là nhờ sự phối hợp hành động chặt chẽ của liên bộ: Công nghiệp - Tài chính - Ngân hàng, theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại công văn số 600/VPCP-KTTH ngày 7-2-2006.

Ngày 26-4-2006, Bộ Tài chính có công văn số 5454/BTC-TCDN cấp 142 tỷ đồng từ nguồn kinh phí cải cách và quỹ tích lũy trả nợ nước ngoài của Bộ Tài chính trả thay Công ty giấy Việt Trì (trong đó nợ nước ngoài là hơn 111 tỷ đồng và nợ Ngân hàng Công thương hơn 30 tỷ đồng). Ðây là số nợ quá hạn tính đến 31-12-2004 của Công ty giấy Việt Trì. Số nợ này sẽ được Bộ Tài chính bàn giao cho Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước khi cơ quan này chính thức hoạt động. Công ty giấy Việt Trì sẽ trả dần số nợ này về sau (đến 2019).

Bên cạnh đó, trên con đường chuyển sang cổ phần hóa, Công ty giấy Việt Trì còn được hưởng một số ưu đãi: Khoản khấu hao cơ bản được giãn từ 15 lên 20 năm (tính từ 2002); Ngân hàng cơ cấu lại vốn vay, kéo dài thời hạn trả nợ, giảm mức lãi suất từ 9,2%/năm xuống còn 7,8%/năm. Tránh được mức gia tăng mạnh của số lỗ lũy kế, cơ cấu lại cơ chế tài chính, Công ty giấy Việt Trì thậm chí đủ điều kiện cổ phần hóa (giá trị phần vốn nhà nước 45,72 tỷ đồng).  

Tuy nhiên, những giải pháp này dù sao cũng chỉ là tạm thời đỡ cho Công ty giấy Việt Trì những gánh nặng trước mắt.

Ðể thật sự có nền tảng tài chính lành mạnh, không thể không có những nỗ lực tự thân của doanh nghiệp. Song, được giải tỏa khỏi sức ép, dưới sự chỉ đạo của Bộ Công nghiệp, Công ty đã tiến hành tổ chức lại bộ máy sản xuất, kinh doanh, tăng cường công tác quản lý hoạt động sản xuất, đẩy mạnh công tác quảng bá, tiếp thị cũng như tăng cường quản lý kỹ thuật nhằm nâng cao chất lượng, tăng sản lượng sản xuất, hạ giá thành, nâng cao sản lượng tiêu thụ. Ðến 30-6-2006, số lỗ lũy kế của Công ty đã giảm được 12 tỷ đồng so với thời điểm 31-12-2004. 

Ðây là những tín hiệu đáng khích lệ, nhưng điều đó rất có thể tạo nên những sức ép mới với ngành giấy. Những đơn vị trực thuộc Tổng công ty Giấy Việt Nam có cùng tình trạng sản xuất kinh doanh với Công ty giấy Việt Trì (theo báo cáo kiểm toán tài chính 2004) không thể trông chờ tất cả đều được hưởng những ưu đãi ấy, mà vẫn phải tìm hướng tháo gỡ khó khăn riêng cho mình. Mặt khác, có thể nói, việc liên bộ Công nghiệp - Tài chính - Ngân hàng phải cùng xắn tay vào cuộc xuất phát từ khoản nợ quá hạn và số lỗ lũy kế quá lớn của Công ty giấy Việt Trì.

Ðây chỉ xem là một biện pháp cấp thiết nhằm tháo gỡ khó khăn, không thể xem là một tiền lệ trong hoạt động của các doanh nghiệp. Trên con đường đổi mới, từ bài học kinh nghiệm đắt giá nhận được sau những khoản lỗ, khoản nợ này, các dự án đầu tư cần phải được nghiên cứu và quản lý chặt chẽ hơn, khoa học hơn và hiệu quả hơn.

Có thể bạn quan tâm