* Thưa ông đây quả là thông tin thú vị. Làm thế nào để có được bước đột phá này trong khi chắc chắn, có nhiều người vẫn nhận thức rằng họ chỉ biết mua băng đĩa vì nhà sản xuất khi ghi âm đã phải trả bản quyền rồi?
- Khi thực hiện các chương trình âm nhạc, nhà sản xuất đã phải trả tiền bản quyền, đương nhiên người thưởng thức mua băng đĩa và không phải nghi đến bản quyền.
Nhưng nếu anh sử dụng vào mục đích kinh doanh thì lại khác. Các dịch vụ của bưu chính-viễn thông chẳng hạn, họ sử dụng âm nhạc vào mục đích kinh doanh thì họ phải trả tiền bản quyền chứ! Cũng như hàng không phát nhạc trên máy bay, du lịch sử dụng âm nhạc trên xe hay tại các điểm du lịch, rồi nhà hàng kinh doanh karaoke đều phải trả tiền bản quyền.
Nơi đầu tiên thu được tiền bản quyền từ các nhà hàng karaoke là Hà Tây, Trung tâm bản quyền âm nhạc và Sở Văn hóa- Thông tin Hà Tây đã có hợp tác tích cực để bảo đảm công bằng cho người sáng tạo.
* Cụ thể là thu tiền bản quyền như thế nào? Bởi chúng ta không thể kiểm soát được người ta hát bài gì?
- Chúng tôi quy định mức giá để thu. Chẳng hạn ở Hà Tây là 750 nghìn đồng/phòng hát/năm - mức áp dụng cho các tỉnh đồng bằng. Ở miền núi thì thấp hơn, các thành phố lớn cao hơn.
Mức cao nhất hiện nay dự định là 15 nghìn đồng/phòng/ngày (khoảng hơn 5 triệu/1 năm) áp dụng cho các hàng karaoke loại 1 ở các thành phố lớn.
* Nhưng việc trả tiền cho các tác giả được thực hiện thế nào? Như đã nói, không thể biết được bài hát nào được hát.
- Danh sách các bài hát mà các hàng karaoke sử dụng Sở văn hóa-thông tin các tỉnh đều nắm được. Trong trường hợp này, chúng tôi chia đều số tiền thu được cho các đầu bài hát. Cũng không đáng là bao nhưng phải có để bảo đảm công bằng.
* Ông có thể tiết lộ số tiền Trung tâm đã thu được từ các hàng karaoke?
- Cho đến nay mới thu được từ Hà Tây khoảng 80 triệu. Các tỉnh tiếp theo như Hà Giang, Lạng Sơn, Vĩnh Phúc đang bắt đầu thực hiện. Đáng nói là ở những tỉnh miền núi như Hà Giang từ các nhà quản lý đến nhân dân đều rất có ý thức về bản quyền.
Ở Hà Nội, chúng tôi cũng đã làm việc với UBND thành phố và Sở Văn hóa - Thông tin. Hà Nội có tới 500 cơ sở kinh doanh karaoke vẫn đang bị bỏ ngỏ.
* Trong thực tế công việc, ông thường thấy vướng mắc ở đâu? Nhận thức về bản quyền âm nhạc nói riêng ở Việt Nam hiện nay thế nào?
- Khi đã có luật thì phải thực hiện theo luật, nhưng chúng ta luôn phải chờ các văn bản dưới luật. Chẳng hạn luật ghi rõ: khi sử dụng tác phẩm phải xin phép tác giả. Đã quá rõ ràng, cụ thể, cứ thế mà làm, đằng này còn phải chờ văn bản liên bộ.
Những nhận thức làm cản trở việc thực thi nghĩa vụ không nằm ở các đơn vị kinh doanh mà ở chính những đơn vị được bao cấp. Những điểm khó là các đơn vị hoạt động nghệ thuật chuyên nghiệp hầu như chưa có chuyển biến rõ rệt về nhận thức. Họ sử dụng tác phẩm đôi khi khá tùy tiện.
Tôi cũng cảm thấy các cấp lãnh đạo ở các địa phương lại hiểu rõ và có trách nhiệm về bản quyền hơn. Rất nhiều Sở văn hóa-thông tin và đài phát thanh truyền hình các tỉnh hiện đã thực hiện tốt việc chi trả tiền bản quyền.
* Sau khi Việt Nam tham gia các Công ước Berne và Geneve, hoạt động của Trung tâm bản quyển âm nhạc chắc chắn là thuận lợi hơn?
- Trung tâm đang ngày càng mở rộng các hoạt động. Đầu năm 2005, Trung tấm cùng với Công ty tin học FPT mở trên mạng Internet dịch vụ bán nhạc có bản quyền đang được bạn yêu nhạc đón nhận hồ hởi.
Hiện nay, hầu hết các đài phát thanh truyền hình trong cả nước, các nhà sản xuất băng đĩa nhạc, một số không nhỏ các đơn vị tổ chức biểu diễn, bưu chính-viễn thông, hàng không... đều đã thực hiện việc chi trả bản quyền cho các tác giả thông qua Trung tâm.
Sắp tới Đài Tiếng nói Việt Nam cũng thực hiện việc chi trả. Việc phát triển của Trung tâm được sự quan tâm của Trung tâm bản quyền khu vực châu Á (CISAC) và vào cuối năm nay, có thể CISAC sẽ kết nạp Trung tâm bản quyền âm nhạc là thành viên không chính thức.
Cũng trong năm nay, Trung tâm sẽ ký hợp đồng bảo hộ quyền tác giả cho các tác phẩm của các tác giả nước ngoài tại Việt Nam.
* Thưa ông, năm 2004 số tiền bản quyền Trung tâm thu được là bao nhiêu? Các nhạc sĩ nào có tác phẩm được sử dụng nhiều nhất?
- Năm 2004, chúng tôi thu được khoảng 1,2 tỷ, dẫn đầu danh sách các tác giả có tác phẩm được sử dụng nhiều là các nhạc sĩ Văn Cao, Trịnh Công Sơn, Phạm Tuyển, Trần Tiến... Trung tâm chỉ trích lại phần trăm thấp nên đến giờ vẫn chưa đủ để trang trải. Chúng tôi hy vọng năm 2005 sẽ thu được khoảng hai tỷ, và may ra Trung tâm có thể tự cân đối được.
* Xin cảm ơn ông!