Không ồn ã như thường thấy ở các làng nghề, làng thêu Đông Cứu êm đềm và thanh bình như bao nhiêu làng quê ven đô khác. Nhưng khi vào đến các xưởng thêu, không ai không ngạc nhiên khi nhìn những sản phẩm của làng nghề. Trên nền của những loại gấm, vóc cao cấp lộng lẫy, từ những đôi tay thoăn thoắt của người thợ, dần hiện lên khi thì những phượng múa rồng bay, khi thì những mặt hổ phù, những lân vờn sóng nước... Vào thăm xưởng thêu mà có cảm giác như lạc vào chốn… cung đình. Ông Nguyễn Thế Du, người có nhiều năm làm nghề thêu cho biết: “Huyện Thường Tín có nhiều làng làm nghề thêu, nhưng thêu đồ cung đình, đồ thờ như áo, mũ, lọng, hia… thì chỉ có ở Đông Cứu. Từ xa xưa, nghệ nhân Đông Cứu đã được triệu vào tận Huế thêu áo mũ, long bào cho vua và hoàng tộc. Hiện ở nước ta chỉ còn làng Đông Cứu giữ được kỹ thuật thêu cổ”.
Tương truyền xưa kia, tiến sĩ Lê Công Hành (thế kỷ 15) sau khi học nghề thêu ở nước ngoài đã dạy cho người dân nhiều làng ở Thường Tín, nhưng mỗi làng ông truyền dạy một kỹ thuật riêng. Bởi vậy, ngay cả quê gốc của Lê Công Hành là làng thêu Quất Động nổi tiếng cũng không biết kỹ thuật thêu phục chế. Trước đây, làng thêu Đông Cứu cũng lao đao. Nhiều người phải làm các mặt hàng thêu khác để kiếm sống. Rất may trong quá trình này, nhiều người vẫn giữ được những kỹ thuật thêu cổ độc đáo. Từ sau năm 1986, nghề thêu phục chế dần dần được khôi phục cùng với sự phục hồi của tín ngưỡng dân gian. Khoảng hơn 10 năm trở lại đây, ngày càng nhiều người đến Đông Cứu đặt hàng, nhất là đặt làm đồ thờ và khăn chầu, áo ngự. Mỗi nghệ nhân Đông Cứu lại có một thế mạnh riêng, như nghệ nhân Vũ Văn Giỏi nổi tiếng với phục chế trang phục cung đình, áo thành hoàng; nghệ nhân Nguyễn Đắc Bảy thêu quạt vải; nghệ nhân Nguyễn Bá Tuy được biết đến với những sản phẩm hia, hài, nón thờ mẫu…
Việt Nam có nhiều làng nghề thêu nhưng sở dĩ thêu phục chế ở Đông Cứu được xem là di sản bởi những kỹ thuật đặc biệt trong nghề. Một trong những kỹ thuật độc đáo nhất, đặc trưng nhất là thêu kim tuyến. Ở các địa phương khác, kể cả nghệ nhân thêu ở Huế, các họa tiết được vẽ ra, sau đó tùy từng họa tiết, họ thêu bằng các mầu chỉ khác nhau là hoàn thành sản phẩm. Với kỹ thuật thêu lối cổ Đông Cứu, như vậy mới được… một nửa quy trình. Nghệ nhân sẽ sử dụng sợi kim tuyến để thêu các đường bao, đường viền của họa tiết được thêu như móng rồng, vẩy rồng, vân mây… khiến các họa tiết này nổi bật hẳn lên, tạo độ sắc sảo. Sợi kim tuyến được đặt lên mặt vải, người thợ dùng sợi tơ thêu cố định sợi kim tuyến vào mặt vải. Bước này đòi hỏi người thợ có tay nghề cao. Từ nền tảng này, người Đông Cứu còn có những kỹ thuật khác như nhồi vòng quanh kim tuyến, nhồi đặc, nhồi lộn kim tuyến, thêu quắn, thắt thịt không nhồi… Các kỹ thuật này được kết hợp với những kỹ thuật mà thuật ngữ gọi là “ghệch độn”, “chênh lề”… khiến các hình thêu như rồng, phượng, hoa lá… vừa sắc sảo, lộng lẫy bởi mầu óng ánh của kim tuyến, vừa nổi lên như hình 3D rất sinh động. Cùng một mầu chỉ, các nghệ nhân còn thêu canh chỉ theo những hướng khác nhau khiến dưới các góc độ khác nhau, họa tiết lại thay đổi, nhìn như đang chuyển động. Đấy là chưa kể quá trình chọn chỉ tơ, chọn sợi kim tuyến…, quá trình vẽ mẫu, in kiểu lên vải… cũng hết sức công phu và cầu kỳ hơn các kiểu thêu khác.
Nghệ nhân Ưu tú Vũ Văn Giỏi, người nổi tiếng với phục chế trang phục cung đình cho biết thêm: “Nếu thêu theo kỹ thuật mới thì người thợ tự do điều chỉnh mũi kim thêu, miễn sao khi hoàn thành, tác phẩm nhìn đẹp mắt, có hồn là được. Thêu theo lối cổ thì từng mũi thêu phải tuân thủ quy định chặt chẽ: các mũi thêu luôn phải theo một chiều nhất định; cách rút kim, kéo chỉ, đâm kim xuống vải thẳng hay nghiêng… theo quy định, chứ không được làm khác. Chính vì sự phức tạp này, một người thợ chăm chỉ phải học từ ba đến 5 năm mới có thể trở thành thợ giỏi, mà chỉ giỏi một công đoạn. Với việc thêu đồ cung đình, áo thờ thành hoàng, mỗi sản phẩm phải ứng dụng nhiều kiểu thêu khác nhau, cho nên rất khó, rất ít người có thể hoàn thành toàn bộ các công đoạn của một sản phẩm”. Cũng vì lý do này, những chiếc áo thờ thành hoàng, những bộ khăn chầu, áo ngự thêu đúng lối cổ phải mất nhiều tháng. Nếu được thêu bằng chất liệu tốt, chúng sẽ có độ bền hàng trăm năm. Mức giá hàng trăm triệu đồng không phải là cao, nếu nhìn vào công sức người thợ bỏ ra.
Hiện nay, thôn Đông Cứu có 400 hộ dân, thì hơn một nửa số hộ theo nghề thêu. Trong đó, có 14 xưởng có từ 10 thợ thêu trở lên. Ngoài nhận thêu trong nước, nhiều khách hàng ngoài nước cũng đến Đông Cứu đặt hàng. Nhưng như vậy không có nghĩa Đông Cứu không đứng trước thách thức về bảo tồn. Kỹ thuật thêu cao cấp rất kén khách, không phải lúc nào cũng có đơn đặt hàng. Người thợ Đông Cứu phải “lấy ngắn nuôi dài” bằng cách nhận “hàng rối” (hàng chợ) để mưu sinh, song song với gìn giữ kỹ thuật thêu cổ. Với những giá trị mỹ thuật, kỹ thuật, dấu ấn nổi bật về sự trao truyền qua các thế hệ, nghề thêu phục chế ở Đông Cứu được UBND thành phố Hà Nội đề nghị Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Đây là giải pháp nhằm tôn vinh, đồng thời nhắc nhở mọi người cùng lưu giữ giá trị văn hóa độc đáo này.