Trước thực trạng đó, các nhà khoa học Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam (Viện Hàn lâm) đã nghiên cứu, ứng dụng thành công chế phẩm phòng, trị bệnh cho loài tôm từ thảo dược, góp phần giảm thiểu thiệt hại.
Tôm thẻ đã trở thành vật nuôi chủ lực trong ngành nuôi tôm công nghiệp của nhiều nước, trong đó có Việt Nam. Chỉ tính riêng năm 2024, diện tích nuôi tôm nước lợ ở Việt Nam đạt trên 749.000ha, sản lượng đạt khoảng 1,29 triệu tấn, trong đó tôm thẻ chân trắng chiếm khoảng 951.000 tấn, kim ngạch xuất khẩu đạt 3,95 tỷ USD.
Cùng với hiệu quả kinh tế từ nghề nuôi tôm mang lại, cũng kéo theo không ít hệ lụy về ô nhiễm môi trường và dịch bệnh. Để tăng lợi nhuận, các gia đình thường tăng mật độ tôm nuôi, trong khi chất lượng môi trường ao nuôi, nguồn thức ăn không bảo đảm khiến phát sinh nhiều dịch bệnh như: Bệnh đốm trắng do virus, bệnh phân trắng, bệnh vi bào tử trùng...
Một trong số những bệnh truyền nhiễm nguy hiểm gây thiệt hại nặng nề cho các hộ nuôi tôm thẻ là hoại tử gan tụy cấp tính (Acute Hepatopancreatic Necrosis Disease - AHPND). Xuất hiện vào khoảng năm 2009, bệnh này đã gây thiệt hại nghiêm trọng cho nghề nuôi tôm ở nhiều quốc gia châu Á và châu Mỹ La-tinh.
Ở Việt Nam, bệnh gây thiệt hại khoảng 9 triệu USD cho các hộ nuôi tôm thẻ tại nhiều tỉnh, thành phố. Riêng năm 2022, diện tích nuôi tôm bị thiệt hại là 1.919ha, trải dài 18 tỉnh, thành phố.
Nguyên nhân gây bệnh được xác định là vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus mang độc tố (được mã hóa bởi các gen tox A, tox B) tấn công vào gan tụy của tôm. Giai đoạn tôm thẻ được 10-60 ngày tuổi sau thả giống là khoảng thời gian dễ mắc bệnh này do hệ miễn dịch chưa hoàn thiện.
Biểu hiện của tôm khi bị nhiễm bệnh là bơi lờ đờ, đường ruột rỗng, gan tụy sưng to bất thường,… và chết sau vài ngày phát bệnh. Trước tình hình này, một số hộ nuôi tôm đã chủ động sử dụng các loại thuốc kháng sinh để điều trị bệnh từ sớm nhằm hạn chế tối đa thiệt hại kinh tế. Tuy nhiên, phương pháp này tăng nguy cơ vi khuẩn kháng thuốc và tái phát bệnh, chi phí điều trị cao, mất an toàn thực phẩm, ô nhiễm môi trường...
Với mong muốn sớm tìm ra giải pháp phòng, trị bệnh hoại tử gan tụy cấp tính và các bệnh do vi khuẩn Vibrio gây ra cho tôm, Tiến sĩ Lê Văn Nhân và các nhà khoa học ở Trung tâm Đổi mới sáng tạo công nghệ cao, Viện Hàn lâm đã chủ động đề xuất thực hiện nhiệm vụ khoa học: “Nghiên cứu tạo chế phẩm kích thích bắt mồi, thúc đẩy tăng trưởng, phòng và trị bệnh cho tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei) từ cây dược liệu”.
Theo Tiến sĩ Lê Văn Nhân, quá trình thực hiện nhiệm vụ, nhóm tác giả đã đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu các hoạt chất rất nhiều loài thảo dược, trong đó nổi lên ba loại gồm: Cây mật gấu (Gymnanthemum Amygdalinum), tỏi (Allium sativum), chè xanh (Camellia sinensis). Đây đều là các thảo dược có chứa nhiều hoạt chất sinh học quý, tính kháng khuẩn cao, kích thích bắt mồi, tăng trưởng và cải thiện miễn dịch cho vật nuôi thủy sản, nhất là tôm thẻ chân trắng.
Trên cơ sở này, nhóm nghiên cứu đã thành công trong việc tạo ra chế phẩm thảo dược tổng hợp, phù hợp mục tiêu nhiệm vụ nghiên cứu như: An toàn, thân thiện với môi trường và có khả năng cải thiện hiệu suất sử dụng thức ăn; thúc đẩy tăng trưởng khối lượng tôm nuôi. Nhất là, chế phẩm còn có khả năng phòng, hỗ trợ điều trị hiệu quả bệnh hoại tử gan tụy cấp tính thông qua hoạt tính kháng khuẩn của các loại thảo dược.
Kết quả nghiên cứu về thành phần hóa học xác định được 53 hợp chất trong cao chiết lá cây mật gấu, trà xanh có 32 hợp chất và tỏi có 30 hợp chất thứ cấp. Bên cạnh đó, nhóm tác giả cũng phát hiện cao chiết xuất từ tỏi có đường kính vòng kháng khuẩn đối với vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus gây bệnh hoại tử gan tụy cấp tính trên tôm từ 10,4-15,32mm và cao nhất là cao chiết mật gấu với đường kính vòng kháng khuẩn từ 12-24mm. So với lá trà xanh và tỏi, lá cây mật gấu thể hiện khả năng kháng khuẩn vượt trội khi đạt hiệu quả ức chế và tiêu diệt vi khuẩn ở mức thấp hơn đáng kể.
Trên cơ sở đó, nhóm nghiên cứu đã thử nghiệm bổ sung chế phẩm tổng hợp từ ba loại thảo dược nêu trên vào thức ăn nuôi tôm thẻ ở quy mô phòng thí nghiệm. Kết quả, các công thức thí nghiệm nuôi tôm thẻ chân trắng sử dụng thức ăn trộn lẫn chế phẩm theo tỷ lệ 15 ml/kg, 10 ml/kg và 5 ml/kg cho thấy, khả năng nhận biết và sử dụng thức ăn của tôm nuôi hiệu quả hơn.
Cụ thể, đối với tôm nuôi thí nghiệm với tỷ lệ trộn 15 ml/kg thức ăn thì thời gian phát hiện thức ăn ngắn nhất là 230 giây; với tỷ lệ 5 ml/kg thì thời gian phát hiện thức ăn 345 giây. Nếu không sử dụng thức ăn trộn chế phẩm thảo dược thì thời gian tôm nuôi nhận biết mồi là 450 giây.
Đối với kết quả đánh giá về tăng trưởng và tỷ lệ sống, nếu tôm nuôi sử dụng thức ăn trộn chế phẩm thảo dược với tỷ lệ 15 ml/kg với thời gian nuôi 90 ngày thì khối lượng tôm đạt 20,50 g/con, kích thước đạt 18,7cm và tỷ lệ sống đạt 80,5%. Trường hợp tôm nuôi không sử dụng chế phẩm, khối lượng tôm nuôi đạt 15,50 g/con, kích thước đạt 13,2cm và tỷ lệ sống đạt 62,5%. Như vậy, tỷ lệ tôm nuôi tăng trưởng nhanh về khối lượng và tỷ lệ sống cao hơn so với không phối trộn chế phẩm.
Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phan Tiến Dũng, Phó Chủ tịch Hội đồng nghiệm thu nhiệm vụ phát triển công nghệ cấp Viện Hàn lâm, đây là nhiệm vụ có ý nghĩa khoa học và tính ứng dụng cao trong thực tiễn, sản phẩm công nghệ của nhiệm vụ có thể nghiên cứu, hoàn thiện quy mô công nghiệp để thương mại hóa. Nhóm có thể tiếp tục nghiên cứu, mở rộng sản xuất chế phẩm nhằm góp phần giảm thiểu việc sử dụng kháng sinh, hóa chất, đồng thời nâng cao chất lượng tôm nuôi và phát triển bền vững nghề này ở nước ta.