Nghiên cứu cơ bản- tầng sâu nhất của đổi mới sáng tạo

Báo Nhân Dân trân trọng giới thiệu bài viết của Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Hùng Việt, Cố vấn khoa học của Phòng Thí nghiệm trọng điểm Công nghệ phân tích phục vụ Kiểm định môi trường và An toàn thực phẩm, Đại học Quốc gia Hà Nội, về nghiên cứu cơ bản - tầng sâu nhất của đổi mới sáng tạo.

Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Hùng Việt hướng dẫn cán bộ Phòng Thí nghiệm trọng điểm công nghệ phân tích mẫu chứa hợp chất PFAS bằng hệ thống sắc ký lỏng hiệu năng cao ghép nối khối phổ hai lần (HPLC-MS/MS).
Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Hùng Việt hướng dẫn cán bộ Phòng Thí nghiệm trọng điểm công nghệ phân tích mẫu chứa hợp chất PFAS bằng hệ thống sắc ký lỏng hiệu năng cao ghép nối khối phổ hai lần (HPLC-MS/MS).

Một quốc gia muốn làm chủ công nghệ lõi, sở hữu các tri thức và sáng chế của riêng mình không thể thiếu một nền khoa học cơ bản mạnh. Không chỉ là nơi tạo ra tri thức mới, nghiên cứu cơ bản còn là nền tảng của đổi mới sáng tạo, năng lực tự chủ công nghệ và phát triển bền vững trong dài hạn.

Muốn tự chủ công nghệ phải mạnh khoa học cơ bản

Nghiên cứu cơ bản không đối lập với ứng dụng, càng không phải là thứ xa rời đời sống. Nghiên cứu cơ bản là tầng sâu nhất của đổi mới sáng tạo. Thực tế đã chứng minh không có vật lý cơ bản thì không có bán dẫn, laser, cảm biến, công nghệ lượng tử. Không có toán học và khoa học máy tính nền tảng thì không có trí tuệ nhân tạo hiện đại. Không có hóa học, sinh học phân tử, khoa học vật liệu thì không thể có công nghệ y sinh, vật liệu mới, năng lượng sạch hay công nghệ môi trường tiên tiến.

Đổi mới sáng tạo thực chất không bắt đầu từ phong trào, mà từ năng lực hiểu bản chất vấn đề. Một doanh nghiệp có thể cải tiến sản phẩm, một kỹ sư có thể tối ưu quy trình, nhưng để tạo ra công nghệ lõi, quốc gia cần những nhóm nghiên cứu có khả năng đi tới bản chất của vật liệu, phản ứng, thuật toán, hệ sinh thái, dữ liệu và mô hình. Đó chính là vai trò của khoa học cơ bản.

Trong nhiều năm, chúng ta thường nói nhiều đến ứng dụng, chuyển giao, thương mại hóa. Điều đó rất cần, nhưng nếu chỉ nhấn mạnh ứng dụng mà không đầu tư cho nền tảng cơ bản, chúng ta sẽ rơi vào tình trạng ứng dụng công nghệ của người khác. Khi đó, năng lực tự chủ công nghệ sẽ rất hạn chế. Muốn tự chủ về bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, công nghệ sinh học, vật liệu mới, năng lượng, môi trường hay quốc phòng-an ninh, Việt Nam phải có các trường đại học và viện nghiên cứu đủ mạnh về khoa học nền tảng. Đây là nơi hình thành đội ngũ nhân lực chất lượng cao, nơi tạo ra tri thức mới, nơi thử nghiệm những ý tưởng dài hạn mà thị trường trước mắt chưa thể nhìn thấy ngay giá trị.

Nghị quyết 57-NQ/TW đã đặt khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo vào vị trí động lực phát triển mới của đất nước; đồng thời, Nghị quyết 45-NQ/TW cũng nhấn mạnh yêu cầu xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ trí thức trong phát triển nhanh và bền vững. Hai định hướng này cần được hiểu thống nhất: muốn đổi mới sáng tạo thì phải có trí thức khoa học mạnh; muốn có công nghệ chiến lược thì phải có nền khoa học cơ bản mạnh; muốn có năng lực tự chủ thì phải đầu tư vào con người, hạ tầng và các nhóm nghiên cứu dài hạn.

Nói cách khác, đổi mới sáng tạo không thể chỉ là phần “ngọn” của hoạt động thương mại hóa. Nó phải được nuôi dưỡng từ phần “rễ” là khoa học cơ bản, văn hóa học thuật, dữ liệu khoa học, phòng thí nghiệm hiện đại và những con người có năng lực tư duy độc lập.

Đổi mới cơ chế để phát triển khoa học cơ bản

Để nghiên cứu cơ bản ở Việt Nam phát triển trong giai đoạn mới, cần đổi mới đồng bộ trên bốn phương diện.

Thứ nhất là cơ chế tài trợ. Khoa học cơ bản không thể phát triển nếu tài trợ quá ngắn hạn, phân tán, thủ tục nặng và thiếu niềm tin vào nhà khoa học. Cần có các chương trình tài trợ 5 năm, 7 năm, thậm chí 10 năm cho các nhóm nghiên cứu mạnh, các phòng thí nghiệm trọng điểm, các hướng khoa học nền tảng gắn với công nghệ chiến lược. Cơ chế đánh giá cũng cần chuyển từ tư duy hành chính sang tư duy học thuật và hiệu quả dài hạn.

Đặc biệt, cơ chế tài trợ phải biết chấp nhận rủi ro khoa học. Nghiên cứu cơ bản không phải lúc nào cũng cho kết quả đúng như dự kiến ban đầu. Nhưng nếu không chấp nhận rủi ro, chúng ta sẽ không có phát hiện mới.

Điều quan trọng là phải phân biệt rõ giữa thất bại trung thực trong nghiên cứu với sự cẩu thả, hình thức hoặc thiếu liêm chính. Một nền khoa học hiện đại phải có văn hóa thử nghiệm có trách nhiệm: dám làm, dám kiểm chứng, dám sửa sai và dám chịu đánh giá học thuật nghiêm túc.

Thứ hai là hạ tầng nghiên cứu. Khoa học hiện đại không thể chỉ dựa vào nỗ lực cá nhân. Cần có phòng thí nghiệm đủ chuẩn, thiết bị dùng chung, trung tâm phân tích hiện đại, nền tảng tính toán hiệu năng cao, kho dữ liệu khoa học và hệ thống quản trị dữ liệu mở. Nhiều lĩnh vực như môi trường, vật liệu, sinh học, trí tuệ nhân tạo, bán dẫn hay khoa học trái đất đều đòi hỏi hạ tầng lớn, chi phí cao và vận hành chuyên nghiệp.

Thứ ba là dữ liệu. Trong thời đại số, dữ liệu khoa học là một dạng tài nguyên chiến lược. Việt Nam cần xây dựng các cơ sở dữ liệu quốc gia về môi trường, khí hậu, tài nguyên nước, đa dạng sinh học, sức khỏe, vật liệu, địa chất, nông nghiệp và đô thị. Nếu không có dữ liệu dài hạn, chuẩn hóa và có khả năng chia sẻ, chúng ta khó phát triển các mô hình dự báo, khó ra quyết định chính sách chính xác và khó tham gia vào các mạng lưới khoa học quốc tế.

Thứ tư là nhân lực. Cần có chính sách đặc biệt để thu hút, giữ chân và phát triển nhà khoa học trẻ. Một giảng viên đại học nếu phải dành quá nhiều thời gian cho giảng dạy đại trà, hành chính và tự xoay xở kinh phí thì rất khó duy trì nghiên cứu đỉnh cao. Nghiên cứu không chỉ cần thời gian, mà cần sự tập trung trí tuệ. Một bài giảng đại học có chất lượng cao cũng phải được nuôi dưỡng từ nghiên cứu. Nếu giảng viên không có điều kiện nghiên cứu, bài giảng dần sẽ trở nên khô cứng, lặp lại giáo trình cũ, thiếu hơi thở mới của khoa học.

Tự chủ đại học là xu thế cần thiết, nhưng đối với khoa học cơ bản, tự chủ không nên được hiểu là Nhà nước giảm đầu tư và để nhà trường tự cân đối như một đơn vị dịch vụ. Tự chủ phải đi cùng đặt hàng chiến lược, đầu tư công, cơ chế khoán chi thông thoáng, đánh giá minh bạch và trách nhiệm giải trình học thuật. Đây là điểm rất cần được nhận thức rõ trong chính sách đại học hiện nay.

Ở tầm rộng hơn, chúng ta cần chuyển từ quản lý khoa học bằng sự nghi ngại sang quản lý bằng niềm tin có kiểm chứng. Niềm tin không có nghĩa là buông lỏng, mà là trao quyền đi cùng minh bạch và trách nhiệm giải trình. Nếu quản lý khoa học quá nặng về hồ sơ, thủ tục và sự an toàn hành chính, nhà khoa học sẽ khó có không gian để sáng tạo. Ngược lại, nếu có cơ chế tin cậy, đánh giá nghiêm túc và tài trợ ổn định, các nhóm nghiên cứu có thể theo đuổi những câu hỏi lớn, tạo ra tri thức mới và đóng góp thực chất cho quốc gia.

Chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đã mở ra một cơ hội mới cho khoa học cơ bản. Nhưng để cơ hội đó trở thành hiện thực, chúng ta cần một cách tiếp cận đủ dài hạn, đủ chiến lược và đủ tin cậy đối với các đại học nghiên cứu, các viện nghiên cứu và đội ngũ trí thức khoa học. Nếu có chính sách đầu tư đúng, cơ chế tài trợ dài hạn và môi trường học thuật hiện đại, khoa học cơ bản Việt Nam hoàn toàn có thể vươn lên, đóng góp thiết thực vào công nghệ lõi, đổi mới sáng tạo và sự phát triển bền vững của đất nước.

Có thể bạn quan tâm