Câu Giang nâng đỡ nhọc nhằn
Không giống với vẻ thâm trầm, dè dặt, kín đáo của các cụ cao tuổi vùng cao, vừa quen biết mà như đã thân quen tự bao giờ, cụ Sóng để lại trong chúng tôi ấn tượng về phong cách sôi nổi, khoáng đạt, mạnh mẽ như con suối trong xanh, ào ạt tuôn trào đầu bản. Một người sống hết mình với niềm đam mê mãnh liệt về câu Giang, câu Ví. Sau câu hát Giang mượt mà đằm thắm, cụ sang sảng kể về duyên nợ đời cụ với câu Ví, câu Giang truyền thống người Mường: Nói ra thì dài nhưng hay và lạ lắm các cháu ạ. Tôi sinh năm Mậu Dần 1938 trên vùng rừng núi Lai Ðồng. Tuổi thơ của tôi gắn với những ngày tháng cơ cực khốn khó kiếm sống trên vạt ruộng nhỏ nhấp nhô đá tảng lừng lững nằm đè lên nền đất cằn cỗi và những buổi luồn rừng lên nương nắng cháy tóc, xạm da, mồ hôi đắng chát trong miệng. Quần quật lam lũ từ khi sương núi còn mờ đục bao phủ đất trời đến khi nhọ mặt người mà thiếu đói vẫn hoàn thiếu đói. Vậy nhưng trong bao nỗi nhọc nhằn kiếm sống người Lai Ðồng chúng tôi không khi nào ngưng lời ca tiếng hát. Câu Ví, câu Giang ghẹo đối đáp giao duyên nam nữ lảnh lót trên những cánh đồng, những cánh rừng trong suốt buổi lao động nặng nhọc. Ðang lủi thủi làm một mình, thấy buồn chán, cất lên câu hát mời chào và lắng nghe bên kia suối lời hát đáp lại, thế là bao mệt mỏi dường như tan hết. Rồi những đêm trăng sáng, câu hát đối đáp, giao duyên tìm bạn của nam nữ trong làng vút cao, vương vấn trên những rặng cây ven triền suối, những mái nhà xám mờ làm lòng người xao động, rạo rực không cưỡng được ý muốn bước chân ra khỏi cửa, cất câu hát đối lời thể hiện tấm lòng.
Ngày mới năm, bảy tuổi cụ Sóng đã say mê những lời ca thể hiện nỗi lòng của người Mường và bập bẹ học những câu hát đơn giản đầu tiên. Cụ có một chị gái nhan sắc vào loại nhất nhì làng bản và đặc biệt, tài hát Ví, Giang nổi tiếng cả vùng. Người chị ấy đã tốn rất nhiều công sức để dạy bà cách lên giọng, luyến láy cùng các câu Giang khó nhưng nỗi lo miếng cơm, manh áo đã ghìm câu Giang, câu Ví lại, nên bà chẳng tiếp thu được bao nhiêu. Thế rồi năm 1970, người chị, người thầy ấy đột ngột ra đi! Thật lạ! Từ đấy hình ảnh của chị cùng những câu hát trước đây luôn ám ảnh. Trong một thời gian ngắn, cụ Sóng bỗng nhiên thuộc lời và hát thành thạo tất cả những câu hát khó trước đây không thể nhập tâm. Từ đó, Ví, Giang gắn bó với bà như một "duyên nợ".
Tuổi trưởng thành, cô sơn nữ Hà Thị Sóng tham gia công tác xã hội và trở thành giáo viên bổ túc, hằng ngày len lỏi đến các bản, làng cầm tay dạy từng con chữ cho người dân. Nhan sắc kiều diễm cùng giọng ca trời phú của cô gái Lai Ðồng đã làm bao thanh niên quanh vùng mê đắm như ăn phải bùa phải bả.
Trong số họ có anh cán bộ văn phòng xã với tình cảm nồng nàn, chân thật đã chiếm được trái tim "con sơn ca của núi". Cưới nhau chưa lâu, anh chia tay vợ con để lên đường nhập ngũ. Hòa bình lập lại, đón người chồng từ chiến trường trở về, chị Sóng khóc òa trong niềm vui, hạnh phúc ngọt ngào. Cứ tưởng từ đây vợ chồng sẽ có những ngày tháng trọn vẹn hạnh phúc bên nhau. Nào ngờ "ngày vui ngắn chẳng tày gang", năm 1979, anh qua đời do bạo bệnh để lại ba con còn nhỏ. Ðó là quãng thời gian chị phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức nhất. Cô đơn, hụt hẫng về tình cảm, công việc xã hội, gia đình đè nặng trên đôi vai gầy yếu. Nhiều hôm vừa địu con dầm mưa đi dạy học, vừa lo kiếm cây rau, củ rừng cho bữa chiều, chị không khỏi ứa nước mắt chua xót cho số phận kém may mắn của mình. Những lúc đó, câu Giang, câu Ví đã dìu chị đi qua những khúc quanh cuộc đời.
Cụ Hà Thị Sóng, người sống hết mình với niềm đam mê hát Ví, Giang.
Nỗi niềm câu hát người Mường
Nhấp chén rượu trong vắt, sóng sánh vị thơm của nếp, của hương men lá núi rừng, cụ Sóng cười sảng khoái: "Ðó là chuyện ngày trước, giờ thì tôi nhàn rồi. Con cái phương trưởng, tôi ở với anh con cả hiện làm cán bộ xã. Hằng ngày, ngoài làm những công việc vặt cho giãn gân, giãn cốt tôi lại ngồi ôn lại những câu Giang quen thuộc để lớp trẻ có ai đến hỏi, hoặc anh em mời đi biểu diễn ở đâu thì hát cho thuần thục". Theo lời kể của cụ: Câu Ví, câu Giang chỉ có một điệu duy nhất và đều là tiếng lòng, là hơi thở cuộc sống của người Mường vậy nên không cần nhạc đệm. Tuy nhiên, hát Ví đơn giản hơn, ở dạng "mộc" là những câu thăm hỏi, đối đáp giữa nam và nữ. Chẳng hạn như người nữ hát: "Ðến đây thì phải chơi đây/Bao giờ trồng mía thành cây mới về". Người nam đáp lời: "Ðến đây anh muốn chơi đây. Biết hoa ai hái, biết cây ai trồng?"... Hai người cứ trải lòng ra bằng lời hát. Ca từ trong Ví hát tiếng phổ thông nên dễ hiểu, dễ truyền bá đến đông đảo mọi người. Tuy chỉ có một làn điệu nhưng Giang có nhiều bài với các nội dung phù hợp với từng đối tượng, hoàn cảnh: Giang ghẹo (đối đáp giao duyên nam nữ), Giang đẻ đất đẻ nước, Giang về lao động sản xuất, Giang mừng dựng nhà, mừng con dâu mới... Ðặc biệt, ca từ trong hát Giang là nguyên bản tiếng Mường do người hát tự ứng khẩu thành lời.
Câu Giang, câu Ví khi trong vắt, vút cao lảnh lót, lúc thủ thỉ tâm tình, khi lại đong đưa bỡn cợt đến lạ kỳ. Bà Sóng đã biểu diễn cho chúng tôi nghe những điệu hát truyền thống với ca từ phong phú, lúc mộc mạc, chân chất như hạt lúa, củ khoai, lúc chau chuốt, lung linh huyền ảo như những áng thơ: "Yêu nhau chẳng đến được với nhau/Ðành mượn cơn gió bắc cầu anh qua", khi lại đáo để đến chua ngoa: "Anh chê em đen, em xấu/Em xấu, em đen là do mẹ em tắm nước suối chưa trong, nước sông chưa sạnh/Ở đây ai có thể đóng mảng đuổi người đen, người xấu đi không?"... Ðược nghe giọng ca trong trẻo hiếm có ở tuổi gần 80, chứng kiến cụ hát say mê như nhập đồng, tôi bỗng có cảm giác nơi mình đang ngồi nghe hát không phải hiện tại mà là vùng rừng núi Lai Ðồng mấy chục năm trước với câu Giang, câu Ví của những chàng trai vạm vỡ, đôn hậu, những sơn nữ kiều diễm, đảm đang ngân vang trên những cánh đồng, ven suối, quấn quýt hòa quyện vào nhau như tiếng lòng đằm thắm, hiền hòa của người Mường.
Gắn bó lâu năm với câu hát truyền thống người Mường, đến nay cụ Sóng có thể nhớ và biểu diễn thuần thục cả trăm câu Giang cổ cùng những câu hát do bà tự ứng khẩu, sáng tác trong suốt mấy chục năm trời. Với vốn ngôn từ phong phú, khả năng ứng tác thiên phú nhanh nhạy, trong bất cứ hoàn cảnh nào, cụ cũng có thể nhanh chóng có những câu hát mới phù hợp với hoàn cảnh mà vẫn đằm thắm, mượt mà. Cụ đã từng sáng tác lời Giang tuyên truyền dân số, mừng con dâu mới, mừng huyện Thanh Sơn đón nhận danh hiệu Anh hùng LLVT... với ý tứ mới mẻ, làm mê đắm đông đảo khán giả. Cái khó của người nghệ sĩ hát Ví, hát Giang là bạn hát. Phải là người có giọng ca, trình độ hiểu biết tương đương và đồng cảm về tâm hồn mới có thể biểu diễn ăn ý thành công. Những lần được mời đi hát trước, không có bạn diễn ưng ý, cụ phải hát cặp với ông chú ruột Hà Ðăng Danh. Vậy là trước đông đảo khán giả, hai chú cháu vẫn thản nhiên "anh-em" đối đáp giao duyên như một cặp nam thanh nữ tú tình tứ. Hai chú cháu đã cùng nhau xuống Ðền Hùng, Thanh Sơn, lên Thu Cúc biểu diễn theo lời mời và đã để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng khán giả.
Người già như trái chín cây, cụ Sóng sợ một mai khi về gặp tổ tiên, những câu hát truyền thống của cha ông sẽ không còn lại với Mường. Nhận thấy "kho tàng Ví, Giang" quý báu nơi cụ, đã có thời gian xã thành lập Câu lạc bộ hát Ví, Giang, thu hút khá đông thanh niên đến nhà bà tập hát. Nhưng rồi kinh phí không có, đám trẻ thấy việc tập hát không hấp dẫn bằng ra ngoài làm thuê kiếm tiền, vậy là câu lạc bộ tự tan rã. Giờ chỉ còn ông Hà Mạnh Sắng, cán bộ Văn hóa xã cặm cụi vác đài đến nhà bà ghi âm lại những làn điệu Ví, Giang làm tư liệu lưu trữ và thi thoảng đem ra phát trên đài truyền thanh.
Chia tay nghệ sĩ của núi rừng với lời chúc trường thọ, nghe cụ hát câu Giang chào khách hẹn buổi gặp gỡ lần tới, chúng tôi cứ thấy cay cay nơi sống mũi. Vẫn biết với người nghệ sĩ, thời gian nhiều khi không có ý nghĩa, nhưng như lời cụ đã nói: Tuổi già như chuối chín cây. Và lúc ấy Lai Ðồng ơi, ai sẽ là người làm giàu kho tàng Ví, Giang xứ sở?